Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Vài điều suy ngẫm về Nguyễn Thái Hợp


   Điều 1 Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo có quy định:
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo,theo hoặc không theo tôn giáo nào.
Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo của công dân.Không ai được tự do xâm phạm quyền tự do ấy.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

      Như vậy,Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tôn giáo,tín ngưỡng của công dân,tất cả mọi người đều bình đẳng,được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau.Đồng thời chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm,tạo điều kiện đáp ứng đầy đủ tâm tư nguyện vọng của đông đảo giáo dân.Do đó đã tạo nên sự thống nhất,tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc giúp đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhưng đáng buồn thay,thời gian gần đây có một số kẻ lợi dụng chút chức sắc trong tôn giáo,lợi dụng lòng tin của giáo dân làm những điều xằng bậy,chia rẽ lương-giáo,đi ngược lại ý chí của cả dân tộc.Điển hình là Nguyễn Thái Hợp-tổng giám mục giáo phận Vinh-những ngày vừa qua ông ta đã có những hành động kích động giáo dân Mỹ Yên,Nghệ An gây rối,làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước.Đây là điều không thể nào chấp nhận được!

Giáo dân Mỹ Yên gây rối tại Ủy ban xã Nghi Phương(Ảnh:Nguồn Internet)

Sự việc bắt đầu với vụ án hình sự của hai đối tượng Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải,là hai giáo dân thuộc giáo phận Vinh bị lực lượng công an xét xử vì tội bắt giữ người trái pháp luật,gây rối trật tự công cộng.Một vụ án tưởng chừng rất bình thường nhưng không ngờ nó lại trở thành cái cớ gây ra vụ việc phức tạp diễn ra tại xã Nghi Phương,huyện Nghi Lộc,tỉnh Ngệ An vừa qua.Giáo xứ Mỹ Yên mà đứng đầu là tên Nguyễn Thái Hợp cho rằng hai đối tượng này bị “bắt oan sai,chính quyền làm bừa,trái pháp luật”.Điều này thật nực cười!Rõ ràng Khởi và Hải bị xử như vậy là hoàn toàn hợp pháp,có tội thì phải chịu phạt là lẽ tất nhiên và chính hai người này cũng đã thành khẩn nhận lỗi,mong được sự khoan hồng của trái pháp luật đó thôi.Ấy vậy mà đã không hiểu rõ sự tình thì thôi,ông Hợp còn kích động các giáo dân bao vây Ủy ban nhân dân xã Nghi Phương đòi thả người một cách trắng trợn,bắt giữ cán bộ ủy ban yều cầu kí cam kết đòi thả người.Thật sự là ông ta không biết hay là cố ý không hiểu,ủy ban nhân dân xã thì làm gì có quyền hạn gì trong việc bắt hay thả người chứ mà buộc họ kí với kết.Giáo dân quanh đây không hiểu rõ ràng sự việc,lại bị “cha” kích động,hô hào giật dây đằng sau cho nên vụ việc đã đi quá giới hạn.Lực lượng công an được huy động để ổn định lại tình hình trật tự đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của một số phần tử quá khích,làm một số người bị thương.Sự thật là thế,chỉ là vậy thôi nhưng Nguyễn Thái Hợp lại bôi lem sự thật,lừa bịp giáo dân,trong cái gọi là “thư chung” mà ông ta “tự biên tự diễn” có viết: “Ngày 04/09/2013 quả là ngày hồng phúc cho giáo phận Vinh chúng ta,vì đó là lễ tấn phong Giám mục phụ tá .Rất tiếc là niềm vui và nụ cười của chúng ta vừa nở trên môi thì ngay buổi chiều hôm đó,những giọt nước mắt và máu của người dân lành đã phải đổ xuống,vì vụ đàn áp giáo xứ Mỹ Yên thuộc xã Nghi Phương,huyện Nghi Lộc,tỉnh Nghệ An”.

       Luận điệu sai trái của Nguyễn Thái Hợp(Ảnh:Nguồn Internet)

“Đàn áp công giáo”,làm gì có chuyện đó,tôi hiểu,ông hiểu và hết thảy mọi người đều nhận ra mà.Công an họ chỉ làm đúng trách nhiệm của mình mà thôi,không phải công an là để bảo vệ an ninh trật tự hay sao.Thật sự tôi chỉ thấy tội,thấy tiếc cho những giáo dân tin nhầm ông,nghe theo lời xúi giục của ông mà vi phạm pháp luật,bị thương.Họ cứ lầm tưởng rằng “đức cha”sẽ là kim chỉ nam chỉ đường cho họ có cuộc sống ấm no hạnh phúc,nhưng hạnh phúc thì chưa thấy đâu mà chỉ thấy những rắc rối,buồn phiền mà thôi.Đôi lúc tôi tự hỏi liệu ông Hợp có thật sự vì lợi ích của giáo dân hay không?À tôi nge nói mấy ngày trước ông có ra nước ngoài làm gì đó,mà không hiểu sao khi về ông lại tự nhiên có nhiều hành động phi lí,ngang ngược chống chính quyền như vậy.Chắc có lẽ ông được bọn phản động,thế lực thù địch chỉ dẫn,cho ít tiền thì ông mới có gan thế chứ.Tôi thật sự thất vọng,Nhà nước ta quan tâm đồng bào giáo dân như thế,muốn xây dựng cơ sở vật chất thờ tự,muốn tổ chức phong trào gì thì chính quyền đều quan tâm cố gắng giúp đỡ.Nhưng những gì mà ông đáp lại thì sao,trong vòng một năm ở tỉnh xảy ra 23 vụ vi phạm pháp luật liên quan đến giáo dân.Ông là Tổng giám mục Giáo phận Vinh,đồng thời là chủ tịch Ủy ban Công lí và Hội đồng giám mục Việt Nam mà lại xúi dục giáo dấn gây rối,chia rẽ lương giáo như vậy liệu có xứng đáng với giáo dân, với đất nước hay không?

Tôi hiểu trong cuộc sống ai mà chẳng có lúc phạm phải sai lầm,quan trọng là biết sửa sai mà thôi.Ông là một người Việt Nam ,hãy thể hiện mình là một người yêu nước có trách nhiệm,đừng dấn thân vào con đường tội lỗi nữa.Mong ông suy xét lại cho!

Kiến Quốc

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch


       Ngày 30/04/1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất,non sông Việt Nam thu về một mối,dân tộc được đoàn tụ sau những ngày bị bọn thực dân,đế quốc thống trị ,bắt ly tán và vùi dập trong máu lửa.

Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa.
Cho chúng con giữa Vui này được khóc
Hôn mỗi đứa em, ôm mỗi mẹ già
Như lòng Bác, mỗi khi Bác đọc
Đồng bào miền Nam, mắt kính bỗng nhoà.
(Toàn thắng về ta)


                   Xe tăng tiến vào dinh độc lập(30/04/1975)

         Đây là một chiến thắng lịch sử,một móc son chói lọi đánh dấu trên đất nước Việt Nam sạch bóng giặc ngoại xâm.Nhân dân Việt Nam được tự làm chủ hoàn toàn vận mệnh của mình,được độc lập-tự do-hạnh phúc dưới chế độ Xã Hội chủ Nghĩa.Thế nhưng từ đó cho đến nay,dân tộc Việt Nam vẫn phải chống lại âm mưu phá hoại của thế lực thù địch.Những kẻ thua cuộc không nuốt trôi cơn hận,những kẻ mất đi quyền lợi “sung sướng” của mình,bất mãn với chế độ…Vẫn không ngừng tìm mọi cách chống phá,tìm mọi cách để lật đổ chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam,thủ tiêu Đảng Cộng Sản.

Âm mưu của thế lực thù địch với “diến biến hòa bình” là chống phá đất nước ta trên mọi mặt,mọi phương diện:

Về mặt chính trị tư tưởng: Chúng coi đây là mục tiêu hàng đầu,quan trọng nhất để chúng làm cho đất nước Việt Nam tự chuyển biến và tự chuyển hóa không còn đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa.Chúng âm mưu triệt phá,thủ tiêu chủ nghĩa Mác-LêNin,tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân.Chúng tăng cường tuyên truyền qua mọi phương tiện có thể,với tư tưởng Tư Bản Chủ nghĩa,lối sống thực dụng,xa hoa,trụy lạc trái với thuần phong mỹ tục nét văn hóa Á-Đông,nét văn hóa của dân tộc Việt Nam.Làm cho tình hình chính trị ngày càng khủng hoảng,để nhân dân không tin vào chế độ,không còn mặn nồng với những ngày chiến thắng lịch sử của dân tộc nữa.Đặc biệt,nguy hiểm hơn,chúng cho người xuyên tạc các đường lối chính sách của Đảng-nhà nước,kích động tầng lớp nhân dân,chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam,đặc biệt là đoàn kết trong các dân tộc và trong các tôn giáo.Chúng cho người chui sâu,leo cao vào nội bộ ta,phá hoại các chủ trương,kích động ngầm,làm cho nhân dân mất lòng tin vào chính quyền.

Về mặt Văn hóa-Xã Hội: thực tế,đây là mặt gần gũi nhất với nhân dân,thế lực thù địch âm mưu chống phá trên phương diện này nhằm làm mất đi bản chất của Dân tộc Việt Nam,từ đó rất dễ dàng chuyển hóa,thực hiện những bước tiếp theo.Chúng chống phá trực tiếp các đường lối chính sách của Đảng;làm chệch hướng đi các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc,đồng thời tôn thờ,cổ súy theo hình thức “tây hóa” sống xa rời thực tế,thích hưởng thụ,làm mất đi cái gốc căn bản nhất của nét văn hóa người Việt.Thế lực thù địch phá hoại,bằng cách kích động các bà con dân tộc,tôn giáo,các tư tưởng dân tộc hẹp hòi sống theo kiểu ly khai,chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,đặc biệt là lợi dụng triệt để những mâu thuẫn đơn giản trong xã hội để đào sâu tư tưởng hận thù.Chúng nhắm vào các tầng lớp trẻ trong xã hội và các văn nghệ sỹ lôi kéo để tuyên truyền,truyền bá những tư tưởng phản động từ đó hướng rộng rãi đại chúng vào những tư tưởng đó.

Về các mặt kinh tế: Âm mưu của thế lực thù địch là hướng cho đất nước Việt Nam không còn đi theo con đường kinh tế thị trường định hướng Xã Hội chủ Nghĩa mà đi theo hướng Tư Bản Chủ Nghĩa.Chúng tích cực phá hoại các chính sách phát triển kinh tế của đất nước,thúc đẩy chuyển hóa cơ cấu kinh tế,các ngành,các lĩnh vực quan trọng chúng đều tăng cường phá hoại.Lợi dụng sự mở cửa nền kinh tế của đất nước Việt Nam để xâm nhập thị trường,lũng đoạn kinh tế,phá hoại làm cho nền móng kinh tế của đất nước bị lung lay,dần chuyển hóa thành kinh tế TBCN.

Trên lĩnh vực quốc phòng,an ninh,đối ngoại: Đây là trọng vấn đề rất quan trọng mà thế lực thù địch nhắm vào để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” ở nước ta.Chúng phá hoại từ những chính sách của Đảng và nhà nước ta,trên lĩnh vực,quốc phòng,an ninh,đối ngoại,âm mưu là làm cho sự tê liệt hoàn toàn các chính sách,dẫn đến sự điều chỉnh của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với các lĩnh vực này không còn tác dụng nữa.Chúng tuyên truyền,đòi “phi chính trị hóa” lực lượng quân đội nhân dân và công an nhân dân,đây là hai lực lượng căn bản bảo vệ Đảng,nhà nước,bảo vệ sự an ninh tổ quốc,toàn vẹn lãnh thổ nếu như chúng thực hiện được âm mưu này thì coi như “diễn biến hòa bình” được thực hiện thành công một phần.Chúng lợi dụng sự mở cửa hội nhập để tăng cường phá hoại đất nước,gây mất ổn định an ninh trật tự,đặc biệt là những địa bàn có vị trí đặc biệt trong vấn đề quốc phòng,an ninh.Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc,tôn giáo,lợi dụng sự thiếu nhận thức chính trị của bà con để kích động gây mất an ninh,trật tự, mất đoàn kết dân tộc,tiến hành thành lập các nhà nước tự trị,khu tự trị.Tạo kịch bản “diễn biến hòa bình” giống như các nước Nam Tư cũ,lybia,Syria,Ai Cập…



Kịch bản “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch ở các nước Trung Đông.

Nguy hiểm hơn,chúng luôn lợi dụng vấn đề này để lên tiếng can thiệp,chỉ trích thông qua ngoại giao hay trực tiếp bằng các biện pháp khác làm cho tình hình quốc phòng,an ninh đất nước ta gặp nhiều khó khăn.

Để bảo vệ thành công thành quả cách mạng,bảo vệ thành công con đường đi lên Xã hội Chủ Nghĩa và làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch thì đòi hỏi toàn Đảng,toàn dân phải không ngừng nỗ lực,tăng cường phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc:

Thứ nhất:Kiên định đi theo con đường chủ nghĩa Mác-Lênin,tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam.Xây dựng trong mỗi con người bãn lĩnh chính trị vững vàng,không để thế lực thù địch làm lung lay nền tảng tư tưởng vững chắc đấy.Tin tưởng,trên cơ sở góp ý điều chỉnh một cách khoa học,phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước,để vừa xây đắp được nền móng tư tưởng vừa có cơ hội phát triển thêm tầm tư duy mới,tư tưởng tiến bộ.Kiên định con đường Xã Hội chủ Nghĩa mà Bác Hồ và toàn Đảng ,toàn dân đã chọn.Không mơ hồ dao động trước âm mưu xuyên tạc chính sách của Đảng,nhà nước của thế lực thù địch.

Thứ hai:Phòng và chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch,tiến hành bài trừ các tư tưởng tư bản chủ nghĩa với lối sống thực dụng,xa rời thực tế trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân Việt Nam.Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc. “Hòa nhập nhưng không được hòa tan” trong thời kỳ hội nhập của đất nước,giữ được bản chất văn hóa của con người,của dân tộc Việt Nam để bạn bè thế giới biết đến nét văn hóa đó.Phát huy truyền thống dân tộc của con người Việt Nam,kiên cường,bất khuất,đập tan mọi âm mưu,luận điệu của thế lực thù địch.

Thứ ba:Nâng cao tinh thần cảnh giác cho mọi người dân trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch.Không để chúng sử dụng những chiêu trò kích động,mua chuộc để phá hoại dân tộc khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam,không để chúng lợi dụng vấn đề dân tộc,tôn giáo để chia rẽ dân tộc tộc ta được.

Thứ tư: Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,không để thế lực thù địch lợi dụng sự tự do thương mại để “lũng đoạn” thị trường Việt Nam.Tích cực đóng góp,xây dựng và phát triển nền kinh tế nước nhà lên một tầm cao mới,có chỗ đứng trên trường quốc tế.Ngăn chặn,chống lai âm mưu chuyển hóa nền kinh tế của nước ta chệch hướng sang kinh tế “Tư bản chủ nghĩa”.

Thứ năm: Đập tan những âm mưu,luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng quân đội và công an của thế lực thù địch.Xây dựng hai lực lượng này càng vững mạng,chính quy,tinh nhuệ và từng bước hiện đại để bảo vệ đất nước bảo vệ nhân dân,bảo vệ thành quả của tổ quốc Việt Nam xã Hội Chủ Nghĩa.Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng,nhà nước đối với hai lực lượng này,tạo mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân,giữa quân với dân để nâng cao tinh thần chiến đấu của dân tộc.

Tất cả mọi người dân chúng ta,đặc biệt là giới trẻ hiện nay,cần nâng cao cảnh giác,không nên lơ là trước âm mưu,thủ đoạn của thế lực thù địch.Phát hiện,ngăn chặn và xử lý lịp thời những tình huống bất ngờ xẩy ra,để chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch./

Kiến Quốc



Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Tình yêu quê hương,đất nước trong tôi !


       Tôi sinh ra thuộc thế hệ 9x,lớn lên trên vùng quê miền trung đầy nắng gió và tôi hiểu rằng những người dân ở đó,cần cù,chăm chỉ chịu thương chịu khó lắm.Đồng thời tôi được thừa hưởng tình yêu quê hương,đất nước nồng cháy,bất diệt từ quê hương tôi,tình yêu đó được thể hiện từ những cái rất nhỏ,đơn giản và bình thường nhất.

       Khi tôi nhìn thấy ánh sáng mặt trời,lúc đấy chiến tranh đã lùi xa,nhưng những kí ức về chiến tranh của dân tộc tôi được tiếp thu rất nhiều từ gia đình,ông bà,cha mẹ.Những thế hệ trong gia đình tôi đều tham gia cống hiến cho đất nước trong hai cuộc chiến tranh ác liệt và điều đó làm tôi rất tự hào.Tôi tự hào vì tôi được sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng,góp phần cho tổ quốc đánh đuổi được giặc ngoại xâm,để bây giờ tôi có cơ hội đến trường,vui chơi,học tập…không còn tiếng bom tiếng súng như những ngày chiến tranh ác liệt nữa.Tôi càng tự hào hơn khi một dân tộc Việt Nam nhỏ bé,lại có thể chiến thắng được những đế quốc sừng sõ như Pháp ,Mỹ.Chiến tranh qua đi đất nước lại bắt tay vào công cuộc xây dựng phát triển kinh tế-xã hội.Tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và đạt được nhiều thành tựu,đưa được đất nước từ một nền sơ khai do chiến tranh tàn phá,thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu,đồng thời có một thế đứng trên trường quốc tế.

   Cánh đồng lúa quê hương Việt Nam (Ảnh Nguồn:Mạng Internet).

        Mỗi người có một cách tiếp nhận để có lòng yêu quê hương,đất nước khác nhau,nhưng tình yêu quê hương,đất nước trong tôi được hình thành từ thời thơ ấu.Bố mẹ tôi bảo rằng,muốn làm được gì cho đất nước thì trước hết phải cố gắng học tập tốt đã,sau đó mới có cơ hội để đưa sức lực của mình cống hiến cho tổ quốc cho nhân dân,để đền đáp lại công ơn dưỡng dục của cha mẹ,của nhà trường và của xã hội.Cống hiến tri thức cho đất nước trong thời đại Công nghiệp hóa-hiện đại hóa là rất quan trọng và đó cũng là những lời dạy mà tôi rất tâm huyết và luôn hi vọng một ngày tôi sẽ đạt được điều đó một cách trọn vẹn và cũng coi như một việc làm góp phần công sức nhỏ bé của mình cho tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ Nghĩa.

      Tôi còn hiểu rõ hơn,ngay cả khi đất nước trong thời bình thì các nước luôn có những tranh chấp về mặt chủ quyền,lãnh thổ không những thế mà thế lực thù địch lại luôn hoạt động để phá hoại đất nước nhằm kìm hãm sự phát triển Kinh tế-xã hội của đất nước.Mỗi người có một cách yêu nước khác nhau và tôi cũng vậy,cơ bản là cách yêu nước đó được thể hiện như thế nào cho đúng.Nhiều lúc thấy những bạn trẻ,những “sinh viên” tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc trên các địa bàn khác nhau,đặc biệt là trên địa bàn thành phố “Hà Nội” tôi cũng muốn thể hiện lòng yêu nước đó lắm chứ,bởi đây là cách chứng minh rằng tôi là một người con Việt Nam,tôi muốn bảo vệ chủ quyền đất nước mình,tôi muốn chống “ông lớn” Trung Quốc bành trướng,xâm phạm chủ quyền hai quần đảo “Hoàng Sa” và “Trường Sa”.Nhưng tôi lại hiểu rằng,cách tốt nhất để mình bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước là lặng lẽ,âm thầm “ủng hộ” những chiến sỹ đang ngày ngày cầm súng canh gác ngoài khơi xa,đầy những vất vả và khó khăn.Những bà con ngư dân đang ngày ngày bám biển để bảo vệ chủ quyền,những bà con trên các huyện đảo đang gặp khó khăn về kinh tế,các em nhỏ chưa có trường lớp để học tập.Vì thế tôi luôn tích cực vận động bạn bè và đồng nghiệp lập các quỹ quyên góp “góp đá xây trường sa” hay “ủng hộ sách vở cho “tủ sách huyện đảo trường sa”…Bởi tôi biết rằng “Biểu tình” nếu xét về mặt bản chất,thì nó là tốt,nhưng phải nằm trong các trường hợp cụ thể.Nhưng trong giai đoạn hiện nay thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” thực hiện các cuộc cách mạng màu,cách mạng đường phố… thì “biểu tình” lại là cơ hội để cho chúng thực hiện thành công âm mưu đó vì thế đó là lý do tôi đã không chọn phương án cùng các bạn “sinh viên” tham gia biểu tình.Nếu làm thế một phần mình đã gián tiếp “gây hại” cho đất nước chứ không phải là “yêu nước” nữa.Nên tôi cũng hi vọng các bạn trẻ nên tìm hểu rõ hơn về tình hình chính trị của đất nước để thể hiện cách “yêu nước” một cách đúng đắn và thể hiện mình là một người yêu nước thực sự.

      Và hơn hết tôi lại không yêu nước một cách “ồn ào” như Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha.Cách yêu nước đó giường như không đúng với mục đích,tôi nghĩ đó chỉ là cái “vỏ bọc” để thế lực thù địch lợi dụng phá hoại đất nước,các bạn ấy đã từ bỏ việc học tập của mình để đi theo một con đường của những kẻ đã phản bội chính dân tộc mình chứ không còn là yêu nước nữa.Không biết khi nhận ra những sai lầm của mình các bạn ấy có cảm thấy tội lỗi với tổ tiên với dân tộc mình hay không ? Hay là sự mơ hồ về chính trị làm cho các bạn ấy sinh “hoang tưởng” về một chế độ không gọi là thực tế.Còn với tôi hoàn toàn khác các bạn ấy,tôi chỉ yêu nước qua cách của riêng mình là cống hiến trí và lực của mình cho sự nghiệp xây dựng,phát triển và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã Hội Chủ Nghĩa.

Và tôi cũng như những người yêu nước khác,tôi thực sự “phẫn nộ” trước những hành động của những kẻ đã không giúp được gì cho đất nước lại lại đi tìm mọi cách để chống phá,phá hoại đất nước.Chúng luôn tìm mọi cách để nói xấu lãnh đạo,xuyên tạc các đường lối chính sách của Đảng và nhà nước,phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,phân biệt vùng miền…nhưng chúng vẫn nói là đang làm vì yêu đất nước,không biết đây là yêu nước kiểu gì?Vì thế nên tôi thực sự lên án những hành động của những kẻ đó,chúng vì những đồng tiền “dơ bẩn”,vì chút bất mãn đơn giản mà làm những hành động như thế thật là đáng khinh,như vậy thì còn gọi gì là con người nữa.

     Tôi nghĩ yêu nước là những cái đơn giản và bình thường nhất,hi vọng mỗi người chúng ta hãy thể hiện lòng yêu nước một cách đúng đắn.Đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho ta mà cần hỏi ta đã làm gì cho tổ quốc hôm nay?.

Kiến Quốc

Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2013

Tuổi trẻ với tình yêu biển đảo

Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kì quốc gia nào cũng có.Là một quốc gia  biển, đảo với đường bờ biển dài  3260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, có  hơn 3000 quần đảo lớn nhỏ và hai quần đảo lớn Hoàng Sa và Trường Sa. Với 28 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố giáp biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành phố ven biển. Biển có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của phần lớn cư dân ven biển. Biển gắn với quá trìnhxây dựng và phát triển đất nước của con người Việt Nam trải dài theo hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc.
Theo công ước Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982, nước ta có diện tích Biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích biển Đông. Vùng biển nước ta có khoảng hơn 3000 đảo lớn nhỏ và hai quần đảo lớn xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá nhiều theo chiều dài bờ biển đất nước.
Công ước Luật biển năm 1982 mà Việt Nam phê chuẩn năm 1994 quy định một nước ven biển có 5 vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa.
Việt Nam là một quốc gia biển với định hướng vươn ra biển, làm giàu từ biển để phát triển kinh tế. Chúng ta cần tăng cường khả năng quản lí các hoạt động khai thác tiềm năng biển, tập trung  huy động  mọi tiềm năng và lợi thế của biển, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với quốc phòng – an ninh. Tạo môi trường hòa bình, ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế. Xây dựng lực lượng hải quân vững mạnh, theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ đáp ứng yêu cầu thời đại, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, thềm lục địa của Tổ Quốc.



Hiện nay vấn đề biển đảo đã và đang là sự quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta. Đặc biệt, do vấn đề tranh chấp trên biển Đông của một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Philipin…Đã làm cho tình hình thêm căng thẳng.
Trước tình hình đó hàng năm, Đảng, Nhà nước, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các đoàn - hội - đội thường xuyên tổ chức các cuộc vận động, tuyên truyền rộng rãi về các vấn đề của đời sống xã hội. Đặc biệt, những năm gần đây, việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vấn đề biển đảo được chú trọng, mở rộng, đa dạng hóa về hình thức và nội dung tuyên truyền.
Về hình thức tuyên truyền:
Các đơn vị, địa phương, các bộ, ban ngành đã không ngừng mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền dựa vào tình hình, nhiệm vụ, điều kiện cụ thể cũng như khả năng của mình.
Các hình thức tuyên truyền truyền thống như: sách, báo (trong đó gồm cả báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử…) được tận dụng triệt để. Dung lượng của bài viết tuyên truyền về vấn đề biển đảo ngày càng được tăng lên về số lượng và chất lượng.
Sách, báo tuyên truyền được xuất bản được xuất bản với số lượng ngày càng lớn, phong  phú, đa dạng. Nội dung được chia ra từng phần hợp lí, đảm bảo phù hợp với từng đối tượng, lứa tuổi cần hướng đến. Hình thức thể hiện cũng sinh động hơn, hấp dẫn hơn, đặc biệt với lứa tuổi thanh thiếu niên..
Phát các tờ rơi tuyên truyền về biển đảo là một hình thức khá phổ biến, ở đó ta sử dụng lực lượng đoàn viên thanh niên, học sinh, sinh viên các trường phổ thông trung học, các trường đại học, cao đẳng trong cả nước làm lực lượng chính.
Và vấn đề đặt ra ở đây là phải làm sao để nội dung cũng như hình thức các tờ rơi thật ngắn gọn, dễ hiểu truyền đạt đúng - đủ thông tin. Tránh sử dụng sai mục đích các tờ rơi, hay người dân chỉ cầm mà không chú ý đến, có thái độ bàng quan, gây hiện tượng lãng phí mà không đạt được mục đích hoặc gây ra hiện tượng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Sử dụng pano, áp phích tại những nơi công cộng thu hút sự chú ý của người dân để tuyên truyền những vấn đề cơ bản ngày càng được áp dụng phổ biến hơn.
Hình thức mở các cuộc trao đổi tọa đàm, đối thoại, hội nghị, hội thảo cũng được chú trọng phát triển ở đây, các bạn trẻ có cơ hội được trao đổi, phát biểu ý kiến của mình với các nhà chính trị, các quan chức, giáo sư đầu ngành. Đây cũng là cơ hội để Đoàn thể, tổ chức nắm được tư tưởng, quan điểm của giới trẻ để làm sao tìm ra được phương thức tuyên truyền mới hơn, có hiệu quả hơn.
Các cuộc triển lãm, cuộc thi tìm hiểu, cuộc thi chụp ảnh về biển đảo quê hương,  thi sáng tác những tác phẩm văn học nghệ thuật về biển đảo được Đảng, Nhà nước, các cơ quan, tổ chức mở ra nhằm thu hút sự quan tâm của giới trẻ nói riêng và của quần chúng nhân dân nói chung. Các bài dự thi có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, chất lượng. Có sự đầu tư lớn, được các ban tổ chức đánh giá cao. Thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn của giới trẻ đối với các vấn đề của đất nước cũng như tình yêu của họ đối với quê hương, đất nước.
Đảng ta cũng rất coi trọng hình thức tuyên truyền miệng. Sử dụng các cán bộ tuyên truyền cơ sở của thôn, xã, các bí thư chi đoàn, đoàn viên địa phương…đến từng gia đình để tuyên truyền, làm sao để nội dung tuyên truyền dễ hiểu, sát với thực tiễn.
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ thì việc tuyên truyền cũng đã tìm ra được cho mình một phương thức khá nhanh và hữu dụng , đó là sử dụng mạng Internet, các trang mạng xã hội như facebook, twitter…nơi mà số người sử dụng lên đến hàng triệu, họ có thể tự chia sẻ cho nhau về các chủ trương, đường lối của Đảng qua đó ý thức được việc phải chấp hành chúng và cái gì nên làm, cái gì không nên làm.
Về nội dung tuyên truyền
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm làm cho ý thức về bảo vệ chủ quyền, bảo vệ vững chắc Tổ quốc được thấm nhuần sâu sắc đến mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là giới trẻ. Cho họ thấy được vai trò vị trí của bản thân đối với đất nước.

Đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng vị trí, vai trò, tiềm năng, thế mạnh của biển đảo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như các giai đoạn tiếp theo. Đặc biệt, trong quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước nhấn mạnh những thời cơ, thách thức, thuận lợi và khó khăn để phát huy hiệu quả to lớn của việc thực hiện chiến lược biển đối với sự phát triển, ổn định của đất nước.

Tuyên truyền, phổ biến những kiến thức cơ bản phổ thông về Luật biển quốc tế và hệ thống pháp luật về biển, đảo của Nhà nước ta, những cơ sở pháp lí, khắng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết tranh chấp, tuyên truyền ý nghĩa, nội dung, kết quả thực hiện các văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã kí kết với các nước láng giềng, các nước có liên quan, tuyên truyền giáo dục cho toàn dân nâng cao ý thức đấu tranh bảo vệ, giữ gìn chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, góp phần giữ gìn hòa bình, hợp tác hữu nghị và phát triển giữa các quốc gia vùng biển Đông.

Tuyên truyền , giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế biển, đảo của từng địa phương, các ngành và cả nước, vai trò của các thành phần kinh tế tham gia tích cực và phát triển kinh tế biển đảo, chú trọng tuyên truyền nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới, nhất là trong phát triển kinh tế, an sinh xã hội, đảm bảo giữ gìn an ninh và chủ quyền biển, đảo của Tổ Quốc.
Tuyên truyền định hướng về điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển, phát triển khoa học-công nghệ biển, bảo vệ môi trường biển, công tác dự báo, phòng  chống  và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn. Cần nắm rõ được vị trí khai thác, trữ lượng khoáng sản để có kế hoạch khai thác hợp lí, hiệu quả. Chú trọng đầu tư phát triển khoa học và công nghệ biển, học hỏi kinh nghiệm từ các nước khác trên thế giới, áp dụng có tính chọn lọc, ưu tiên phát triển công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại.
Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống các hiện tượng sai trái, tiêu cực, chống buôn lậu trên biển, đảo, phê phán các hành vi đánh bắt có tính hủy diệt nguồn lợi thủy hải sản, phá hoại môi trường sinh thái biển, tàu thuyền nước ngoài vi phạm chủ quyền, quyền tài phán vùng biển của nước ta, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực cơ hội, thù địch, xuyên tạc về chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Giải pháp tuyên truyền.
Một thực tế không thể phủ nhận là hiện nay ngay chính trên đất nước Việt Nam ta vẫn còn nhiều những người chưa có tầm hiểu biết sâu sắc, thờ ơ với vấn đề biển,  đảo, không quan tâm đúng đắn, trực quan về vùng biển Việt Nam. Các hình thức tuyên truyền rất phong phú, đa dạng, luôn có sự đổi mới sinh động tạo sự hứng thú, quan tâm của người dân ở mọi lứa tuổi, giới tính. Có thể chia ra thành các nhóm hình thức tuyên truyền chính cụ thể như sau:
Nhóm hình thức xử dụng các phương tiện, biện pháp kĩ huật đem đến những hình ảnh trực quan về biển đảo nhằm tác động vào nhận thức của người dân:
Tuyên truyền, giới thiệu về biển đảo thông qua các kênh thông tin đại chúng như ti vi, báo chí, loa phát thanh, các trang mạng xã hội… Đây là hình thức phổ biến nhất và cũng gắn sát nhất với đời sống của người dân vì vậy hình thức này đem lại hiệu qủa rất cao trong việc tuyên truyền, tác động đến ý thức người dân về các vấn đề biển đảo hiện nay, cập nhật từng ngày, từng giờ.
Đưa những hình ảnh về biển Đông trở thành những hình ảnh quen thuộc đời thường nhất thông qua việc in các hình ảnh ấy vào các vật dụng thường ngày. Treo ảnh trên những con phố, con đường nhiều người qua lại. Để thực hiện được công tác này cần phải có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan ban ngành và toàn thể nhân dân mới có thể đạt được hiệu quả tốt nhất.
Đối với công tác giáo dục - công tác cốt lõi để hình thành nhân cách của con người từ khi còn nhỏ thì cần phải có những hoạt động thiết thực như:
Trong đợt thay sách giáo khoa, nhất thiết cần bổ xung các bài học về vị trí địa lý giới hạn vùng biển Việt Nam. Các bài học tìm hiểu tự nhiên, tài nguyên các vùng đảo. Giới thiệu cảnh quan tự nhiên, lịch sử phát triển lãnh thổ và truyền thống văn hóa, lịch sử của các vùng đảo thuộc chủ quyền Việt Nam. Các cứ liệu lịch sử về chủ quyền vùng biển đảo nước ta.
Tổ chức nhiều hoạt đông giáo dục ngoài giờ lên lớp với nhiều hình thức khác nhau như: tổ chức các hội thi: thi đố vui để học, thi văn nghệ hát về biển đảo, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu kiến thức về biển đảo, hùng biền với chủ đề biển đảo,… nhằm tạo sân chơi sôi nổi, hấp dẫn và lôi cuấn đa số học sinh trong các nhà trường tham gia.
Tổ chức tập huấn về kiến thức biển đảo cho toàn bộ giáo viên một cách đại trà, đây là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền về chủ quyền biển đảo Việt Nam sâu rộng và cụ thể đến mối đối tượng học sinh trong mỗi vùng miền khác nhau.
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến những cơ sở pháp lí, khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo trên biển Đông; những văn bản pháp lý về biển, đảo Việt Nam đã kí với các nước láng giềng, các nước có liên quan; tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức đấu tranh, bảo vệ, giữ gìn chủ quền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần bảo vệ, gìn giữ môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia có biển.
Trong các hình thức đó thì công tác tuyên truyền vẫn là hoạt động phổ biến và đạt hiệu quả cao nhất. Để tạo được dư luận sâu rộng trong nước và quốc tế đồng tình, ủng hộ Việt Nam trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo đòi hỏi phải huy động sức mạnh tổng hợp trong công tác thông tin, tuyên truyền. Công tác thông tin tuyên truyền về biển đảo phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng mà cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ định hướng tuyên truyền là ban tuyên giáo Trung ương.
Trong  những năm qua, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh, đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi vấn đề Biển Đông đang trở thành một đề tài nóng trong khu vực cũng như trên thế giới. Để giải quyết tốt vấn đề Biển Đông, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, ta cần phải nâng cao hơn nữa công tác này. Trước hết, về nội dung cần xác định đúng những nội dung thông tin trọng tâm cần đẩy mạnh tuyên truyền.

Đầu tiên, cần phải nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về biển đảo, ý nghĩa của biển đối với sự phát triển của Việt Nam.

Cần đẩy mạnh phổ biến các văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo để mọi tầng lớp nhân dân nắm được. Trước hết đó là Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982.

Ngoài ra, nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, ngày 21/6/2012, Quốc hội đã thông qua Luật biển Việt Nam. Đây là văn bản luật đầu tiên quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước Luật Biển năm 1982.


Công tác tuyên truyền cũng cần phát huy các gương người tốt việc tốt trong bảo vệ chủ quyền như các ngư dân bám biển, đảo quê hương, hình ảnh những chiến sĩ Trường Sa ngày đêm canh gác giữ gìn biển đảo của Tổ quốc, các chương trình hỗ trợ ngư dân (như chương trình “Tầm lưới nghĩa tình”, “Góp đá xây Trường Sa”…) nhằm nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo của người dân, của thế hệ trẻ, biến việc bảo vệ chủ quyền biển đảo thành hành động tự giác của mỗi người dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thiên Sứ

Văn hoá thời hội nhập

Văn hóa Việt Nam được hiểu và trình bày dưới các quan niệm khác nhau:
·  Quan niệm thứ nhất: đó là đồng nhất văn hóa Việt Nam với văn hóa của người Việt, trình bày lịch sử văn hóa Việt Nam chỉ như là lịch sử văn minh của người Việt.
·  Quan niệm thứ hai: Văn hóa Việt Nam là toàn bộ văn hóa các dân tộc Việt Nam cư trú trên mảnh đất Việt Nam, chỉ có văn hóa từng tộc người, không có văn hóa dân tộc/quốc gia.
·  Quan niệm thứ ba: Văn hóa Việt Nam là cộng đồng văn hóa dân tộc/quốc gia, đây là nền văn hóa dân tộc thống nhất trên cơ sở đa dạng sắc thái văn hóa tộc người. Khái niệm dân tộc/quốc gia chỉ một quốc gia có chủ quyền, trong đó phần lớn công dân gắn bó với nhau bởi những yếu tố tạo nên một dân tộc. Quan niệm thứ ba này hiện nay đang là quan niệm chiếm số đông bởi các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong lĩnh vực văn hóa Việt Nam, vì vậy nội dung về văn hóa Việt Nam sẽ được trình bày theo quan niệm thứ ba, văn hóa Việt Nam theo hướng văn hóa dân tộc.
Cho dù bạn hiểu theo quan niệm nào đi chăng nữa thì văn hoá Việt Nam là  văn hóa của con người, do con người, vì con người. Đó là sự chắt lọc, kế thừa liên tục trong dòng thời gian vô tận; văn hóa là sáng tạo, chỉ có sáng tạo mới trở thành văn hóa. Giá trị văn hóa đích thực bao giờ cũng có sức thu hút và cảm hóa mạnh mẽ con người hướng về cái chân, thiện, mỹ, dù chính kiến hay niềm tin có khác nhau.
Sức mạnh to lớn của văn hoá dân tộc đã được chứng minh qua bề dày truyền thống lịch sử của dân tốc.  Trải qua một nghìn năm bị đô hộ không những không bị đồng hóa mà còn tích lũy và phát triển trở thành lực lượng vô tận vùng lên giành lại độc lập cho đất nước. Đó là nhờ dân ta đã giữ vững được nền văn hóa của dân tộc. Chúng ta đánh thắng những kẻ địch xâm lược mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Đó là nhờ sức mạnh của Chủ nghĩa yêu nước, của nền văn hóa Việt Nam, của chủ nghĩa anh hùng kết hợp với trí thông minh, sáng tạo của dân tộc. Sự nghiệp đổi mới giành thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử càng chứng tỏ sự bền vững, sức sống, sáng tạo của nền văn hóa Việt Nam.Điều này cũng đặt ta yêu cầu  trong tình hình hiện nay chúng ta phải xây dựng  “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Để xây dựng được “nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” chúng ta cần nỗ lực phát huy truyền thống và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại.
Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Giữ vững, phát huy truyền thống
Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển hiện nay, việc giữ vững và phát huy truyền thống là một yếu tố cần thiết và tất yếu. Trong quan hệ xã hội người Việt Nam “Tôn sư trọng đạo”, tôn trọng người có công với dân tộc làm đầu. Giao lưu, đối thoại với các nền văn hóa thế giới, người Việt Nam luôn thể hiện bản lĩnh văn hiến dân tộc, giữ danh dự tâm hồn trong sáng. Tinh thần khiêm tốn học hỏi, cầu thị vì sự tiến bộ và phát triển đất nước, con người trước quan hệ quốc tế luôn được đề cao. Trong quan hệ giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư, các nhóm cộng đồng và cá nhân, thái độ “đói cho sạch, rách cho thơm”, tinh thần “Thương người như thể thương thân” luôn là bản sắc văn hóa trong cuộc sống, ứng xử của người Việt Nam.
Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại
Chúng ta không thể phủ nhận sự phát triển của các nền văn hoá trên thế giới, trong điều kiện hội nhập hiện nay thì việc du nhập các yếu tố văn hoá nước ngoài vào Việt Nam là một quy luật. Nhưng chúng ta vẫn luôn biết cách làm chủ và chọn lọc những gì phù hợp nhất cho nền văn hoá của dân tộc.
Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới là một phương thức, một quá trình của văn hoá dân tộc Việt Nam nhằm tiếp xúc, thu thập những giá trị tốt đẹp nhất của văn hoá các dân tộc khác trên thế giới, phù hợp với tư tưởng, cảm quan, phong hoá của dân tộc mình nhằm làm giàu văn hoá dân tộc mình.
Trong bối cảnh giao lưu văn hoá quốc tế ngày càng mạnh mẽ, thì vấn đề tiếp thu có tính chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại ngày càng có vai trò quan trọng bởi nó giúp hoà nhập văn hoá dân tộc với quốc tế mà còn giúp giữ gìn, bảo vệ và phạt huy vốn liếng, bản sắc văn hoá dân tộc.
Điều đặt ra ở đây là chọn lọc như thế nào? Sự giao lưu, giao tiếp không chỉ những tinh tuý mà nó luôn có cả sự không tinh tuý, thậm chí còn độc hại, phản giá trị.. Vì vậy, ngoài cơ chế thâu nhập những gì tốt đẹp thì vẫn phải song hành với cơ chế khác, đó là chọn lọc, ngăn ngừa, loại bỏ những gì không phù hợp, những gì không thể kết hợp, chồng chéo, “hoà nhập chứ không hoà tan”, hoà nhập để làm nổi lên văn hoá bản địa.
Trong tình hình hiện nay nhiều giải pháp chưa được thực hiện triệt để,chưa đem lại hiệu quả cao; yếu tố văn hóa trong xây dựng văn hóa thời kì hội nhập chưa được đề cao để xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội . Xây dựng cơ quan văn hóa hiệu quả còn thấp. Tình trạng suy thoái về đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhân dân vẫn diễn ra nghiêm trọng. Năng lực, hiệu lực quản lý nhà nước về văn hóa có lúc còn lúng túng, bị động trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Quản lý thị trường văn hóa chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Việc xây dựng luật, các chính sách về văn hóa triển khai chậm, hạn chế về tính thực tiễn.
Để xây dựng được một nền văn hoá tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc điều cốt yếu là toàn dân cần “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” hình thành đạo đức tốt đẹp trong giao tiếp, ứng xử. Đẩy mạnh công tác tư tưởng, văn hóa xây dựng nhân cách, nhân văn cao đẹp trong mỗi người, trong tập thể và toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Saga Nguyễn

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Điều 4 hiến pháp, đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam nên Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn là mục tiêu công kích nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo, tác động phá hoại tư tưởng làm suy đồi, bôi nhọ Đảng, mục tiêu cuối cùng của những tên phản động là thay đổi chế độ, làm suy yếu năng lực lãnh đạo của Đảng. Trong đó thủ đoạn của bọn chúng là truyền bá tư tưởng xấu: “Đảng và nhân dân vị thế bị tráo”. Đọc tiêu đề trên ta cũng hiểu rằng mục đích của Đảng Cộng Sản Việt Nam là làm cho dân ấm no hạnh phúc, dân là lực lượng “dâng thuyền cũng có thể nhấn chìm thuyền” nếu xa rời nhân dân, không đảm bảo lợi ích của nhân dân thì Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ đi lệch con đường phát triển, luộn điệu của bọn chúng luôn là khiêu khích làm lệch lạc sự hiểu biết của quần chúng như: “Dưới con mắt cường quyền, Nhân dân hiện ra như bầy cừu chỉ có khả năng biểu cảm bằng tiếng “be be”, suốt đời cần được bề trên “chăn dắt”; hay như đám học trò thiểu năng, “giáo dục” suốt mấy chục năm mà vẫn không khá lên được, thành thử mãi vẫn chưa đủ tầm dân trí, để xứng đáng hưởng những quyền tự do dân chủ, mà thế giới vẫn coi là quyền tối thiểu…” nó như muốn kích động quần chúng nhân đứng lên lật đổ chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa để thay thế bằng chế độ khác, trong khi đó ta không thể phủ nhận những giá trị mà quần chúng nhân dân đã tạo ra, là chủ thể chân chính sáng tạo lịch sử, là động cơ của mọi cuộc cạch mạng xã hội. Đảng Cộng Sản Việt Nam không coi Nhân dân là “bầy cừu” cũng không coi Nhân dân là đám học trò thiểu năng, mà Nhân dân là lực lượng nằm quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích cho quần chúng Nhân dân. Nhân dân giữ vai trò giám sát thông qua Mặt Trận tổ quốc và các đoàn thể. Nhân dân sẽ xây dựng Đảng tham đóng góp ý kiến xây dựng phê bình chỉnh đốn Đảng. Đảng và nhân dân không thể hoán đổi vị trí vì vai trò của Nhân dân là cốt yếu, Đảng là tổ chức đại diện. Bọn chúng lôi những hiến pháp không phù hợp với nước ta để nhận xét đánh giá đất nước ta. Bọn chúng luôn đòi hỏi tự do tôn giáo đời quyền lợi, đòi “tự do tín ngưỡng”. Tất cả các tôn giáo đều du nhập từ nước ngoài khi du nhập và đất nước ta phải tuân theo những quy định của pháp luật, nó không xâm phạm quyền lợi hay truyền bá tư tưởng của các tôn giáo mà pháp luật nhằm định hình và phát triển ổn định bền vững của tôn giáo, phục vụ vào mục đích chung của dân tộc, đoàn kết dân tộc ngay điều 1 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội SỐ 21/2004/PL-UBTVQH11 ngày 18 tháng 6 năm 2004 VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO cho biết: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau” mục đích của Đảng cũng được thể hiện ở Điều 5: “Nhà nước bảo đảm quyền hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật; tôn trọng giá trị văn hoá, đạo đức tôn giáo; giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng nhằm góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân
          Đảng hoạt động luôn lấy ý kiến đông đảo quần chúng Nhân dân vào những quyết định của mình. Đảng luông tổ chức những cuộc họp chất vấn, công khai nhằm mục đích là để toàn thể những đảng viên đại diện được tham gia đóng góp ý kiến và biểu quyết những quyết những chủ trương, đường lối của mình. Chúng nêu lên quan điểu đổi tên “lực lượng vũ trang nhân dân” thành “lực lượng vũ trang Đảng Cộng Sản Việt Nam” là muốn chia tách sự đoàn kết giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, trong khi nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang nhân dân là bảo vệ an nih quốc gia giữ gìn trật tự an toàn xã hội và an ninh tổ quốc, rõ ràng những phần tử truyền bá khẩu hiệu này rất thâm độc, muốn chia tác nhân dân với lực lượng bảo vệ Nhân dân để chúng lợi dụng điều đó lại tuyên truyền khẩu hiệu “Nhà Nước Việt Nam không tuân thủ dân chủ, nhân quyền, lực lượng vũ trang phục vụ ý chí của Đảng Cộng Sản không phục vụ quyền lợi của nhân dân” từ đó móc nối với các nước phương tây gây sức ép, cấm vận, để từ đó làm thay đổi chế độ chính trị của nước ta.

          Chúng tuyên truyền khẩu hiệu bãi bỏ “nghĩa vụ quân sự” mục đích rất nham hiểm. Tuyển “nghĩa vụ quân sự” không phải xấu, khi vào môi trường quân đội các học sinh sinh viên sẽ được đào tạo cả về thể chất lẫn tinh thần, hiểu được nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc trước các thế lực thủ địch và đế quốc xâm lăng, ở đó sẽ là điều kiện tốt nhất giúp những những học sinh sinh viên nhân dân có được những phẩm chất đúng đắn, bản lĩnh và ý chí kiên cường. Bọn chúng còn nhầm tưởng “nghĩa vụ quân sự” là “nghĩa vụ quốc tế”.
Văn Nam

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2013

Lê Hiếu Đằng - Ngày xưa và Bây giờ

          Lê Hiếu Đằng (sinh 19??) là luật gia, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên là phó Tổng Thư Ký Ủy ban Trung Ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Nguyên Tổng thư kí Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam ở TP HCM[1]. Tính tới 2013, ông 45 năm là Đảng viên Đảng CSVN. Ông là một trong các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975, thành viên Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và ĐH Luật Khoa. Vâng, đó là ngày xưa, một thời oai hùng của sự nghiệp.

    Vậy mà Hiếu Đằng ngày này Như thế nào qua bài viết dưới đây của tác giả. NGUYỄN TÚC (Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam) qua báo Đại Đoàn Kết - 24/08/2013 10:49 00, phần nào lột tả một phần của sự sảo trá của Hiếu Đằng mời các bạn cùng xem:
Sự thật không như những điều anh Lê Hiếu Đằng suy nghĩ:
       Có một hôm, ông bạn chí cốt của tôi từ thời để chỏm, vốn là giảng viên Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, sau được điều về làm Thường vụ Quận ủy Bình Thạnh (TPHCM)- phụ trách tuyên huấn, điện cho tôi:
         Nhưng mấy ngày qua, nhiều vị trong Đoàn Chủ tịch, trong các Hội đồng tư vấn yêu cầu tôi với tư cách "người trong cuộc” phải có tiếng nói công khai về những gì mà anh Lê Hiếu Đằng viết về Mặt trận và các thành viên của Mặt trận.
         Đọc "Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” và những bài anh Lê Hiếu Đằng trả lời phỏng vấn RFA, của RFI, tôi thực sự ngỡ ngàng và không thể hiểu nổi sự "trở cờ” trong anh. Tôi sẽ đề cập những vấn đề khác sau. Trong bài này, tôi tập trung làm rõ những điều anh nói không đúng về Mặt trận và các thành viên của Mặt trận.
1. Trả lời phỏng vấn ngày 18-8-2013, anh Lê Hiếu Đằng viết: "Trước đây, Việt Nam có 3 Đảng… Thế nhưng hai Đảng Dân chủ và Xã hội bị Đảng Cộng sản Việt Nam bức tử, giải tán một cách ngang nhiên”. Tôi có thể nói ngay rằng: Đây là một phát biểu hết sức hàm hồ, hết sức vô trách nhiệm. Nó xúc phạm đến vong linh của những người đã khuất thuộc hai đảng trên và gây bất bình cho gia đình các vị cũng như những đảng viên còn sống.
      Có lẽ anh Lê Hiếu Đằng chưa có dịp tiếp xúc với các đảng viên, đặc biệt là những nhân vật tiêu biểu của hai đảng trên như các vị: Phan Tử Nghĩa, Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Lân, Dương Đức Hiền, Nghiêm Xuân Yêm, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Tấn Gi Trọng, Trần Đăng Khoa, Đỗ Đức Dục và nhiều người khác. Phần lớn các vị là những trí thức tên tuổi, những nhân sĩ nổi tiếng, những nhân cách lớn được Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân ta kính trọng. Đó là những con người mà uy lực không thể khuất phục, tiền tài, danh vọng không thể mua chuộc.
Ai có thể bức tử được những người như vậy?
        Cán bộ Mặt trận Trung ương lâu năm chắc còn nhớ: Một trong những sự kiện quan trọng diễn ra trong 2 năm đầu tiến hành công cuộc đổi mới là quá trình chuẩn bị kết thúc tổ chức và hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam theo nguyện vọng lâu nay của hai Đảng. Với tình cảm sâu sắc và tinh thần trách nhiệm đối với tổ chức thành viên có truyền thống đấu tranh lâu dài và có những đóng góp lớn cho sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất, suốt từ năm 1977, năm hai đảng bày tỏ nguyện vọng của mình muốn kết thúc hoạt động sau khi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử được đề ra trong Cương lĩnh là đấu tranh cho độc lập, thống nhất, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Mặt trận Trung ương đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần gặp gỡ, trao đổi chân thành, cởi mở với lãnh đạo hai đảng và mong muốn hai đảng tiếp tục sự nghiệp vẻ vang của mình trong giai đoạn mới của cách mạng.
         Hai đảng đã thông báo cho Mặt trận Trung ương biết tình hình phát triển đảng viên trong 10 năm qua (từ 1977 đến 1988) là: tâm trạng các đảng viên và các vị lãnh đạo chủ chốt ngày càng không yên tâm về hoạt động của đảng mình; địa bàn hoạt động ngày càng co lại; đối tượng kết nạp và những người muốn tham gia vào hai đảng trên (kể cả con cái các vị) ngày càng ít đi; số đảng viên của mỗi đảng còn rất ít và tuổi cao, sức khỏe yếu.
        Đặc biệt trong 3 ngày, từ 14 đến 16-5-1988, Trung ương Đảng Dân chủ có tổ chức hội nghị nghe ý kiến của đảng bộ các địa phương và mời Mặt trận Trung ương cùng dự. Hầu hết các cán bộ, đảng viên tham gia hội nghị đó đều đề nghị kết thúc hoạt động của đảng và nhất trí kiến nghị với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và MTTQ Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi để Đảng Dân chủ kết thúc tốt đẹp sự nghiệp vẻ vang của mình, đồng thời cần có những chính sách đối với những cống hiến của đảng về quyền lợi chính trị, những anh em có đủ tiêu chuẩn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, được cấp giấy chứng nhận quá trình hoạt động cách mạng. Sau khi hai đảng kết thúc, các đảng viên hai đảng sẽ sinh hoạt trong các tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
      Đáp ứng nguyện vọng thiết tha của hai đảng, ngày 10-10-1987, Mặt trận Trung ương đã phối hợp với các cơ quan hữu quan của Nhà nước cùng lãnh đạo hai đảng có văn bản gửi Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kiến nghị cho phép hai đảng chấm dứt các hoạt động của mình.
    Lễ kết thúc hoạt động của Đảng Xã hội Việt Nam đã được tổ chức trọng thể vào ngày 15-10-1988 tại Nhà hát lớn TP Hà Nội.
Lễ kết thúc hoạt động của Đảng Dân chủ Việt Nam được tổ chức vào ngày 30-10-1988, sau 3 ngày họp đại hội toàn thể phiên cuối cùng từ ngày 28 đến 30.
Sự thật là như vậy. Có ai "bức tử” ai đâu.
2. Trong bài "Những điều nói rõ thêm” của anh Lê Hiếu Đằng đề ngày 19-8-2013 có nêu: "Có buổi làm việc với ông Lê Quang Đạo, lúc đó là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” và ông Phạm Văn Kiết (Năm Vận) Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký của Ủy ban TƯMTTQ Việt Nam. Trong cuộc họp, hai ông đặt vấn đề: Trong hệ thống chính trị hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phải giữ vai trò "đối trọng”, đã bị phê phán kịch liệt và có lệnh không được phép nhắc lại nữa. Ông Lê Quang Đạo cũng được cho về nghỉ vì dám có chủ trương nói trên.
         Ở đây, anh Lê Hiếu Đằng đã có sự nhầm lẫn hay cố tình nhầm lẫn? Xin nhắc lại là năm 1994 đồng chí Lê Quang Đạo được bầu làm Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Khóa IV, đồng chí Trần Văn Đăng, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu làm Tổng Thư ký. Đồng chí Năm Vận là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký khóa III (1988) và Chủ tịch là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Đồng chí Phạm Văn Kiết mất năm 1995. Còn chẳng có cơ quan nào cho đồng chí Lê Quang Đạo về nghỉ như anh viết, mà làm Chủ tịch Mặt trận đến hơi thở cuối cùng, sau một đợt nhồi máu cơ tim. Đồng chí Phạm Thế Duyệt lúc đó là Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị được Đảng phân công và Ủy ban Trung ương Mặt trận bầu làm Chủ tịch vào tháng 8-1999.
      Có lẽ do tuổi cao sức yếu, nên có thể anh Lê Hiếu Đằng có sự lẫn lộn và vì vậy người đọc có thể nghi ngờ sự chính xác và trung thực các thông tin mà anh đưa ra.

                   NGUYỄN TÚC
(Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam)

(Bài viết Linh Beo đục đẻo đôi chút cho phù hợp)


 

Thống kê

  • bài viết
  • bình luận

Rank Blog

Lượt xem

.
Chia sẻ