Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2013

Sức mạnh của Quân đội ta gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước họp bàn quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ
Hình ảnh một khối duyệt binh của Quân đội nhân dân Việt Nam

   

Quân đội ta do Đảng, Bác Hồ sáng lập và rèn luyện. Sức mạnh của Quân đội ta trong suốt chiều dài lịch sử gần 80 năm qua gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng.
Điều đó đã làm cho Quân đội ta bách chiến bách thắng, góp phần cùng với dân tộc làm nên những thắng lợi huy hoàng vẻ vang nhất trong lịch sử. Quân đội và nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước vừa qua và hiện nay. Việc Đảng lãnh đạo Quân đội đã trở thành truyền thống, lịch sử. Đó cũng là một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định làm nên sức mạnh của quân đội.
Vừa qua có một số người cho rằng phi chính trị hóa quân đội. Điều này không mới. Vì ngay từ khi đất nước ta giành được hòa bình thống nhất cho đến nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tuyên truyền phát động tư tưởng phi chính trị hóa quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Và hôm nay những người đó chỉ nhắc lại cái mà các thế lực thù địch đã nói.
Về mặt lý luận chẳng có quân đội nào phi chính trị bởi vì quân đội là công cụ của một nhà nước mà nhà nước bao giờ cũng đại diện cho một giai cấp thống trị. Chẳng có nhà nước nào phi giai cấp.
Chỉ khác là giai cấp vô sản, giai cấp công nhân đã công khai quyền lãnh đạo, còn giai cấp tư sản, phong kiến che giấu việc này. Lý do đơn giản là họ đại diện cho một thiểu số trong cộng đồng quốc gia, dân tộc. Nếu công khai việc này vô hình trung họ thừa nhận nhà nước đó không đại diện quyền lợi và lợi ích của cả dân tộc bởi vậy họ che giấu. Còn giai cấp vô sản đại diện cho lợi ích của cả dân tộc vì họ là tuyệt đại đa số cho nên đảng của giai cấp vô sản công khai tuyên bố là đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và quân đội.
Rất đơn giản thôi nếu quân đội Mỹ phi chính trị thì cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam hay những cuộc chiến tranh sau này như cuộc chiến tại Iraq, Afghanistan, Libya… có sự tham gia quân đội Mỹ đều vì mục đích chính trị của nhà nước cầm quyền của giai cấp tư sản, chế độ tư bản. Cho nên mọi luận điệu tuyên truyền phi chính trị hóa quân đội đều nhằm mục đích tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa và cơ hội để thay đổi chế độ.
Quân đội tách khỏi chính trị có bảo vệ quyền lực cho nhân dân không, bảo vệ tổ quốc hay không?hay chỉ là phục vụ quyền lực của một nhóm cơ hội chính trị độc đoán của các thế lực thù địch.
Như  đã nói ở trên, Hiến pháp lần này là cụ thể hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở đất nước ta, do đó sự lãnh đạo của Đảng và nguyên tắc Hiến định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng phải được cụ thể trong Hiến pháp.
Trong thời kì mới, trước những phát triển của tình hình và nhiệm vụ cần tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng. Đó là nhân tố chủ yếu quyết định trong cơ chế vận hành của nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Có thực hiện tốt nguyên tắc chiến lược đó mới bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược trong mọi tình huống và phát triển bền vững.

Linh BEO

Tương lai của một chế độ đa đảng tại Việt Nam . NÊN HAY KHÔNG NÊN???



Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng đa đảng và một đảng đã và đang diễn ra rất quyết liệt, thực chất đó là biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp, phản ánh tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay...
Có đúng là “nhiều đảng cạnh tranh nhau thì dân chủ hơn”?
Có ý kiến cho rằng, thực hiện đa đảng, có nhiều đảng cạnh tranh nhau thì sẽ dân chủ hơn, sẽ tốt hơn một đảng! Có đúng như vậy không? Câu trả lời ở đây là không phải như vậy. Hãy xem chính người Mỹ nói về nước Mỹ, một nước thực hiện chế độ đa đảng, thực chất là thế nào. Họ nói rằng, nước Mỹ là một nước “tự do” người dân tự do biểu tình, chửi bới, báo chí tự do phanh phui những chuyện nhạy cảm, xuyên tạc, bôi xấu lẫn nhau vì sự cạnh tranh của các đảng phái này, nhằm hạ uy tín của đảng phái kia. Nhưng điều đó không phải là bản chất thực sự của dân chủ
Cho nên, Có thể rút ra một số vấn đề sau:
Thứ nhất, Chế độ đa đảng của nước  TBCN “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản;
Thứ hai, Dân chủ ở nước TBCN là dân chủ tư sản, không phải là dân chủ của đa số, không thực hiện quyền lực thực sự thuộc về nhân dân;
Thứ ba, Thực chất đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản.
Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nền dân chủ đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và nhân dân lao động mà thôi.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã có và cũng đã phủ định chế độ đa đảng.
Các thế lực thù địch “khuyên” chúng ta thực hiện đa đảng thì sẽ được dân chủ hơn, đất nước sẽ phát triển hơn đời sống nhân dân sẽ được tốt đẹp hơn, đất nước phát triển! Điều chắc chắn rằng sẽ không phải như vậy, không phải như các thế lực thù địch tô vẽ ra và như viễn cảnh hy vọng của một số người.
Vậy, nếu Việt Nam đa Đảng thì có một tương lai như thế nào? Và đặt trong hoàn cảnh đất nước ta như hiện nay thì sẽ đi tới đâu?
Hiện nay đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là về mặt kinh tế, và càng khó khăn yếu kém , nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta thì đất nước đang ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng nâng lên. Nhưng cái mồm tự do dân chủ của các thế lực phản động ngày hôm nay khác hẳn thời còn ngăn sông cấm chợ thì cái xu hướng chửi Đảng và móc ngoáy càng bạo mồm vào kêu gọi đa đảng chính trị.
Tuy nhiên, tôi đảm bảo rằng, nếu Việt Nam mà đa đảng thì chắc chắn tương lai Việt Nam sẽ có các hiện tượng sau:
1)    Các đảng phái đánh lộn lẫn nhau.

Điều đầu tiên tôi đảm bảo, đó là nếu Việt Nam mà đa đảng, thì người Việt Nam CHẮC CHẮN SẼ MẤT ĐI SỰ ĐOÀN KẾT, trong thời bình thì sự đoàn kết này … rất hiếm khi thấy , thậm chí có người còn tưởng không có. Khi người Việt Nam tối ngày lo giành nhau, đánh nhau bầu cử cho đảng nào thì chắc chắn không còn sự đoàn kết, trong khi dân tộc Việt Nam là 1 dân tộc rất nhỏ (nếu tính đủ 54 dân tộc vẫn nhỏ) cho nên, nếu ko có sự đoàn kết, tài sản vô giá của người Việt Nam , thì Việt Nam chắc chắn sẽ chết, và bị xé lẻ bởi vô số nước, đầu tiền là Trung Quốc, sau đó là bọn TB Mỹ vào hút tài nguyên. Việt Nam mà đa đảng thì không cần tranh cử và biểu tình đâu, chia phe đánh lộn thẳng ngoài đường luôn. lúc đó CÔNG AN làm gì được, cũng chia phe ủng hộ 2, 3 hay 4  group, rồi kéo quân đội vào dẹp bạo động trong nước, tướng quân đội cũng chia phe thì cả lũ đứng đó mà nhìn nhau à?

2)    Trung Quốc chắc chắn sẽ “làm thịt” Việt Nam ngay tức khắc nếu Việt Nam đa đảng! Tại sao thế ?

Sở dĩ mà Việt Nam yên ổn như thế này vì 1 vài lý do sau đây:

a) Quân đội Việt Nam chưa bao giờ là quân đội mạnh nhất thế giới, nhưng chưa có 1 đội quân mạnh nhất thế giới nào đánh bại được quân đội Việt Nam kể cả Trung Quốc nên Điều đó làm Trung quốc sợ đó.

b) Trung Quốc bây giờ dù muốn đánh Việt Nam cũng phải nghĩ đến tình anh em XHCN ,  tức là chung ý thức hệ CS, dù sao thì mình cũng không phá nó, chỉ nó đang phá mình, mình vẫn giữ giọng nhỏ nhẹ với nó. Đánh mình thì dư luận đủ kiểu, khó khăn đủ bề. Đa đảng là kích cho Trung Quốc quậy phá và đánh Việt Nam bởi không còn ngượng mặt với Đảng Cộng sản Việt Nam nữa.
c) Trong suốt thời kì Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền cho đến nay, ít nhất là họ giữ được Việt Nam trung lập, không ngả về nước lớn, đồng minh thì ai chẳng có, Nga với Việt Nam thì chỉ là đồng mình, chí ít, điều đó khiến Trung Quốc an tâm mà chưa nghĩ đến chuyện triệt hạ khẩn cấp, trừ phỉ Việt Nam ngả về Trung Quốc mới đáng nói, còn bây giờ đa đảng chắc chắn bất cứ đảng nào lên ngoài đảng Cộng sản Việt Nam, chúng nó cũng sẽ chọn ngả vào Mỹ, và lúc đó chính trị Việt Nam sẽ giống như Thái-Nhật-Phil-Hàn trong cách ứng phó với nước khác. Tức là hở 1 chút thì : gọi Mỹ, lấy Mỹ ra dọa, hở một chút thì hợp tác với đồng minh tập trận, hở 1 chút thì đưa máy bay chiến đấu lên kèm máy bay, tàu chiến nước khác. Rồi khi đó nó sẽ đưa hết dân tộc Hoa ở Việt Nam lên chế ra cái chính đảng Cộng sản Việt Nam giả mạo, bù nhìn nào đấy do người Hoa cai trị để biến Việt Nam thành đồng mình của nó. Cái viễn cảnh tôi chỉ ra đấy, đủ nói lên một thực tế có thể xảy ra nếu cứ khư khư là đòi Đa đảng  ở Việt nam.
Tóm lại, từ giờ cho tới khi Trung Quốc sụp đổ, Nêu không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì Việt Nam sẽ toi trước khi Trung Quốc sụp đổ là cái chắc.
3)    Đất nước Việt Nam rất có thể sẽ tự bị xé lẻ ra làm nhiều mảnh, giống như Liên Xô cũ, ít nhất là 2 mảnh, miền Nam và Miền Trung-Bắc, Các khu tự trị trên đất nước.

Hiện nay,  ở Miền nam con em sĩ quan Việt Nam cộng hòa, lính theo ngụy củ có   rất nhiều, họ sẽ ủng hộ đa đảng, da nguyên chính trị, các thành phần cơ hội chính trị các dân tộc nào là tranh giành nhau cũng lập cho mình cái Đảng của riêng mình thôi, rồi nhà nước mọc loạn xạ trên đất nước này. Khi đấy Mỹ và Trung Quốc cứ đứnng ngoài mà cười thôi. Lúc đấy chữ đoàn kết mà tôi nói phía trên coi như vứt, và dân tộc Việt Nam chả có tài sản gì quý giá hơn chữ đoàn kết cả! Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đang là nhân tố chính để duy trì sự đoàn kết điều mà đa đảng thì ko đảng phái nào làm nổi điều đó, nếu không có đoàn kết chính trị ở mức tương đối, thì sẽ không có đoàn kết gì khác cả.

4)    Việt Nam sẽ rơi vào vết xe đổ của tất cả các nước tư bản trước chúng ta đang là các quốc gia đa đảng, lưỡng đảng.

Chính phủ đã thuộc về tay một tầng lớp số ít trong xã hội nhưng nắm giữ nhiều của cải, và biết cách biến các của cải ấy thành quyền lực chính trị để tạo ra nhiều của cải hơn. Tất cả những điều ấy được ngụy trang cực kì mỹ miều dưới mấy cái tên tự do, dân chủ
Nếu đa đảng, Việt Nam chắc chắn cũng không còn một đảng phái cụ thể phục vụ cho số đông như hiện nay, mà số đông con người Việt Nam là những người nghèo khổ.
Cho nên, Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam ở Nước ta như hiện nay mới là yếu tố quyết định bảo đảm sự ổn định và phát triển, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chính trực @

Đảng Cộng sản Việt Nam, Người là niềm tin tất thắng.

“Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng, một mùa xuân tươi tràn ánh nắng khắp nơi nơi. Đảng đã đem về tuổi xuân cho nước non, vang tiếng hát ca chứa chan niềm yêu đới. Bao năm khổ đau đất nước ta không mùa xuân, cuộc đời tăm tối chốn lao tù bao hờn căm. Vừng dương hé sáng khi khắp nơi ta có Đảng, bóng tối lui dần tiếng chim vui hót vang. Và rồi từ đây ánh dương soi đời mới. Tiến theo cờ Đảng là thấy tương lai sáng tươi. Đảng đã cho ta cả mùa xuân của cuộc đời. Đảng truyền cho ta một niềm tin ở tương lai. Đảng đã mang lại tình yêu thương khắp nơi. Thế giới quanh ta hân hoan ngàn tiếng cười. Xua đi màn đêm chiến tranh gieo bao khổ đau, cuộc đời từ nay sẽ sáng tươi như mùa xuân. Vượt mọi gian khó tiến lên đi theo Đảng, bang giá tan dần ánh dương càng huy hoàng. Bạn ơi mùa xuân khắp nơi tươi đẹp quá. Khi lý tưởng Đảng rực sáng trong tim chúng ta”.
            Vâng, những lời trên là những lời trong bài hát “Đảng Đã Cho Ta Một Mùa Xuân”. Nó chứa đựng và toát lên bao nhiêu nỗi niềm, chứa đựng những điều tốt đẹp nhất mà nhân dân Việt Nam ta muốn giành tặng cho Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh.
            “Đảng là mùa xuân, Đảng là người mẹ hiền”, Đảng dẫn dắt nhân dân, dân tộc Việt Nam trải qua biết bao chông gai, thử thách để có được đất Việt Nam phát triển như ngày hôm nay. Đảng xứng đáng nhận được những lời ca ngợi tốt đẹp nhất từ những người con đất Việt, Đảng đã cho nhân dân Việt Nam tất cả: Độc lập, tự do, dân chủ, cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ ngày có Đảng, dân tộc ta, đất nước ta đã có mùa xuân, có ánh sáng soi rọi thoát khỏi con đường tăm tối mà thực dân, đế quốc đã gây ra, Đảng trở thành người tổ chức và lãnh đạo nhân dân Việt Nam đưa nhân dân ta đến mọi thắng lợi. Từ ngày ra đời cho đến nay đã hơn 80 năm trôi qua, trong quãng thời gian gần một thế kỷ ấy Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng phấn đấu, rèn luyện về mọi mặt, xây dựng đội ngũ đảng viên ngày càng trong sạch vững mạnh xứng đáng là những ngọn cờ đầu trong mọi lĩnh vực quan trọng của đất nước.
          Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu sáng lập và rèn luyện luôn luôn phấn đấu, hi sinh không biết mệt mỏi vì độc lập dân tộc, vì lợi ích của dân tộc, của nhân dân và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,  đã đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội, có quan hệ rộng và ngày càng có vị thế trên trường quốc tế.
Con đường của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn trải qua đầy gian nan thử thách, nhưng Đảng ta luôn tin vào con đường “xã hội chủ nghĩa” mà mình đã chọn, đã và đang thực hiện con đường đó đi đúng hướng, những thành quả đạt được từ khi Đảng ra đời cho đến nay quá rõ ràng mà không một thế lực thù địch nào có thể bóp méo được. Có nhiều lý do đi đến sự thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam như: con đường Đảng đã chọn là đúng hướng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng một điều vô cùng quan trọng dẫn đến thành công đó bởi đơn gian vì từ khi Đảng ra đời cho đến nay Đảng luôn “lấy dân làm gốc”, dựa vào nhân dân để dẫn dắt con đường mình đã chọn. Đảng tin dân và nhân dân cũng luôn luôn tin vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự kết hợp đó đã tạo thành một khối đoàn kết thống nhất toàn dân, một sức mạnh chính nghĩa mà không một tên đế quốc cũng như các thế lực thù địch, phản động nào có thể phá vỡ, lấn át được. Ngay từ khi mới ra đời, dưới sự dẫn dắt, rèn luyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn luôn dương cao ngọn cờ “Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc từ đó phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân để đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Trước tiên từ khi thành lập, Đảng đã tập hợp được lực lượng đông đảo quần chúng nhân dân đi theo cách mạng và đến mùa thu lịch sử năm 1945, chỉ sau 15 năm thành lập, Đảng đã lãnh đạo dân tộc ta lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chính quyền phong kiến bù nhìn. Ngày 2.9.1945 tại quảng trường Ba Đình lịch sử, chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã đọc bản “tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đó đưa nhân dân, dân tộc Việt Nam từ kiếp nô lệ trở thành những người chủ thật sự của đất nước. Năm 1946,thực dân Pháp đã quay lại với âm mưu xâm lược nước ta lần thứ hai, trong bối cảnh hết sức nguy cấp đó Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh đã giữ vững, củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân qua đó lãnh đạo nhân dân Việt Nam qua cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm và kết thúc là “chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đưa Việt Nam thoát khỏi sự xâm lăng của   thực dân Pháp.
 Dù kẻ thù lì lợm, quyết xâm lược bằng được nước ta, sau thực dân Pháp là đế quốc Mỹ - tên đế quốc hung mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ nhảy vào xâm lược Việt Nam. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta quyết không sợ, khi đó “khối đại đoàn kết toàn dân càng được giữ vững, tăng cường và phát huy hơn nữa”, niềm tin của nhân dân Việt Nam vào Đảng ngày càng được nâng cao, Đảng luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, nhân dân cũng luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Nhân dân Miền Bắc hăng say sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, là hậu phương vững chắc để nhân dân miền Nam yên tâm, quyết tâm chiến đấu với kẻ thù. Dưới ngọn cờ của Đảng quang vinh, nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước mọi kẻ thù xâm lăng. Kết quả của cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc đó là Mỹ đã phải cút, Ngụy đã phải nhào. Lời của Bác tiên tri chính nghĩa đã giành thắng lợi “Kháng chiến nhất định thắng lợi. Độc lập thống nhất nhất định thành công” và nó đã trở thành sự thật. Thông qua chiến thắng đó thì Việt Nam trở thành biểu tượng của   lòng dũng cảm, của sự đoàn kết toàn dân tộc. Thắng lợi đó còn thể hiện tư tưởng vĩ đại của Hồ Chí Minh, bản lĩnh, trí tuệ, sự lãnh đạo sang suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự đoàn kết, ý chí quyết tâm của dân tộc Việt Nam mà Đảng và Bác Hồ đã dày công vun đắp.
Sau thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo nhân dân đi theo con đường mình đã chọn, nêu cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa cách mạng, chủ nghĩa dân tộc, lấy sức mạnh của quần chúng nhân dân làm nền tảng để khôi phục kinh tê, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, tiếp bước con đường Hồ chủ tịch đã chọn, đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong những năm tiếp theo Đảng đã lãnh đạo đất nước, nhân dân bảo vệ vững chắc biên giới phía Băc và phía Tây Nam của Tổ quốc, đẩy lùi quân xâm lăng.
Cuối thập niên 70 và thập niên 80 củ thế kỷ XX. Ngoài nước, trong lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng, Đảng Cộng sản vag giai cấp công nhân ở các nước này đã dần mất vai trò lãnh đạo của mình. Trong nước thì các thế lực thù địch luôn có ý đồ lợi dụng những sai lầm khiếm khuyết của Đảng đẩy mạnh việc xuyên tạc, công kích Đảng quyết liệt nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội ở Việt Nam. Trong cơn bão khủng hoảng đó, Đảng ta vẫn đứng vững, vẫn cầm lái con thuyền cách mạng đi đúng hướng bởi một lẽ Đảng luôn  biết nhìn lại mình, dám phê bình và tự phê bình những gì sai trái, tự chỉnh đốn mình, để ngày một vững mạnh, trưởng thành hơn và không để rơi sâu vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng trong khối xã hội chủ nghĩa. Đảng biết cách đổi mới tư duy, sang tạo trong vai trò lãnh đạo của mình, biết lấy dân làm gốc, tin tưởng tuyệt đối vào nhân dân, nhân dân cũng tin vào Đảng để đưa đất nước từng bước vượt qua khó khăn. Có những lúc Đảng cũng mắc sai lầm , vấp ngã nhưng qua đó Đảng đã nhìn nhận ra vấn đề của mình, từ đó rút ra những bài học vô cùng quý giá để Đảng có những bước tiến vững chắc về sau.
Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới hơn một phần tư thế kỷ qua đã và đang mang lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng cho đất nước và nhân dân, dân tộc Việt Nam. Những thắng lợi đã đạt được đã khẳng định một điều con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã chọn là đúng đắn, là sang suốt. Rất nhiều chông gai, thử thách đang chờ đợi chúng ta trên con đường ấy nhưng nó không làm cho Đảng ta, nhân dân ta nao núng, không đi chệch con đường mình đã chọn.
Với vai trò lãnh đạo của mình, Đảng đã lãnh đạo nhân dân qua nhiều gian nan, thử thách, từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nhân dân đói kém, thiếu lương thực trầm trọng thì cho đến ngày hôm nay Việt Nam đã là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, nhân dân được sống trong cuộc sống ấm no, yên bình. Có được những thành công như vậy, không chỉ nhân dân Việt Nam, mà cả bè bạn quốc tế cũng phải thừa nhân nhờ đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng cách mạng chân chính mà không một thế lực thù địch nào có thể lấn át, xuyên tạc những luận điệu vô cắn cứ, chỉ trích Đảng được.
Những thắng lợi đạt được sẽ tạo tiền đề để Đảng ta, nhân dân dân tộc Việt Nam vững bước tiến lên xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phồn thịnh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc, Việt Nam từng bước trở thành một nước công nghiệp phát triển, ngày càng có vị thế cao và là hình ảnh đẹp với cộng đồng quốc tế.
Đảng luôn là niềm tin tất thắng của chúng ta, hãy tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng  và con đường mà Đảng đã chọn. Mỗi chúng ta cần chung tay góp một phần công sức nhỏ của mình cùng Đảng và Nhà nước ta xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu đẹp. Tin tưởng rằng  trong một tương lai không xa, Việt Nam sẽ đi lên thành công chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam sẽ có một cuộc sống hòa bình, ổn định, tươi đẹp.

Hoàng Trường!


Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

Sửa đổi hiến pháp - Một góc nhìn


   Sau đại thắng mùa xuân năm 1975,non sông quy về một mối.toàn Đảng toàn dân ta đi lên xây dựng CNXH với tư thế của những người làm chủ đất nước,những người vác trên vai sứ mệnh chính dân tộc mình với bao công việc mới thử thách mới. Một trong những công việc,thử thách ấy là sủa đổi,bổ sung hiến pháp năm 1992 của Quốc hội lấy ý kiến của công dân trên mọi miền tổ quốc trong thời gian gần đây.

Xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Ảnh tư liệu

   Hiến pháp nước CHXHCN VN là luật cơ bản nhất của Nhà nước.có hiệu lực pháp lý cao nhất. Sửa đổi một văn bản pháp lý quan trọng đặc biệt như vậy được tiến hành từ chính ý kiến của nhân dân là minh chứng sống động về quyền công dân của nước ta rất được bảo đảm,đồng thời là đòn đá thẳng vào luận điểm xuyên tạc của bè lũ phản động khi rêu rao Việt Nam không thực hiện tốt dân chủ,không bảo đảm dân quyền… Trong văn bản này,điều 4 được khẳng định là đúng đắn,ảnh hưởng trực tiếp tới vận mệnh dân tộc:

Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

   “Đảng cộng sản Việt Nam,đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam,đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và của cả dân tộc.theo chủ nghĩa Mác-lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh,là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Bởi lẽ:
   - Đảng được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-lê nin,trên cơ sở phân tích quy luật khách quan,Đảng đề ra đường lối,chính sách đúng đắn và thực hiện có hiệu quả chính sách đó trong thực tế.
   - Đảng theo tư tưởng Hồ Chi Minh,tư tưởng đó đang được kế thừa và phát triển.
   Đảng cộng sản Việt Nam có năng lực tổ chức to lớn,khả năng đó được lịch sử kiểm nghiệm. Đảng có khả năng đoàn kết,tập hợp mọi tầng lớp nhân dân để thưc hiện đường lối ,chính sách của Đảng.
   - Đảng luôn trung thành với mục tiêu đấu tranh vì sự nghiệp hòa bình,ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc,phong trào đấu tranh của giai cấp công  nhân ở các nước tư bản chống đế quốc,thực dân làm cho uy tín của Đảng ta ngày càng được nâng cao.
   Lý luận bước ra thực tế sinh động hơn,rõ nét hơn,chính là hòa bình mà chúng ta đang được hưởng. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu lịch sử,trưởng thành dần cùng với sự phát triển của cách mạng để giành thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến trường kì và đang tiến bước “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó là lý do để điều 4 Hiến pháp tồn tại mãi và được bảo vệ khi thế lực thù định luôn muốn xóa bỏ để phá hỏng con đường đi  lên CNXH của cả đất nước.
   Thiết nghĩ,sửa đổi Hiếp pháp là cơ hội để mỗi người yêu nước chân chính bày tỏ quan điểm xuất phát từ chính trái tim và khối óc mình để có những góp ý đúng đắn. Kiên định ,tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng là sự đấu tranh quyết liệt nhất trước những luận điệu lừa bịp của kẻ thù  trong giai đoạn nhạy cảm này.
Hương Lan

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Bệnh sĩ diện, thích chơi sang – HỆ QUẢ









   Hiện nay, cùng hòa nhịp với sự phát triển của xã hội thì các mặt trái của nó cũng xuất hiện, một trong số đó là Bệnh sĩ diện, thích chơi sang” của không ít người trong xã hội.
   Có người ỷ thế có nguồn cứu trợ từ nước ngoài hay có khoản hoa hồng "trời cho" nào đó, ăn chơi đập phá xả láng, lai rai nhậu nhẹt tối ngày. Qua những tiệm rượu, tiệm cà-phê, có thể thấy tấp nập những người có máu "anh chị" "chịu chơi"; họ xài toàn những thứ thiệt sang, thiệt quý. Bia phải bia hộp, rượu phải rượu Tây, thuốc lá phải "galăng" hay "ba số". Món ăn giò chả đối với họ chẳng nghĩa lý gì, xoàng họ cũng phải dùng những thứ "đặc sản" khó kiếm...
   Sống sang, ăn sang, tiêu sang, chơi sang đang thành cái mốt của không ít người. Kẻ lắm tiền đã vậy, người ít tiền cũng cố đua đòi, tập tọng "học làm sang". Người ta ganh đua nhau, chỉ sợ mình mang tiếng là hèn kém, là "không chịu chơi", là "tẩm".      
   Cái bệnh sĩ diện, thích chơi sang lây lan vào cả một số cơ quan, đơn vị hành chính. Không ít nơi chạy vạy cố xây cho được những trụ sở sang trọng, nhà văn hóa kiểu cách, cửa hàng diêm dúa, lộng lẫy... tốn rất nhiều tiền, nhưng dường như chỉ để phô trương, hiệu quả sử dụng rất kém. Trong khi Nhà nước còn thiếu ngoại tệ để mua vật tư, nguyên liệu, phân bón, thuốc trừ sâu... những thứ thiết yếu phục vụ sản xuất, thì có cơ quan vẫn cứ dùng ngoại tệ, kể cả ngoại tệ mạnh, để mua sắm những thứ hàng tiêu dùng cao cấp chưa thật cần thiết, hoặc những hàng xa xỉ, không phù hợp với điều kiện và túi tiền của mình.
   Hiện tượng dùng tiền của công để quà cáp biếu xén cho nhau, liên hoan chè chén, chiêu đãi, thù tiếp lẫn nhau, xảy ra khá phổ biến. Có những ông giám đốc, những vị thủ trưởng quanh năm mùa nào thức ấy, được người cấp dưới biếu quà, gửi tặng phẩm một cách trọng thị. Thôi thì ngày Tết, ngày lễ, ngày kỷ niệm thành lập xí nghiệp, thành lập ngành, mừng hoàn thành kế hoạch sản xuất, mừng khánh thành một ngôi nhà mới dựng, một công trình mới xây... cứ mỗi dịp lại một món quà có giá. Nạn ăn uống chè chén khá lu bù
   Tục ngữ có câu "miệng ăn núi lở", "mưa dầm lâu cũng lụt", mà "đã lụt thì lút cả làng". Một nền kinh tế dù có vững vàng bao nhiêu, sản xuất dù phát triển như thế nào, nhưng nếu không tiết kiệm, cứ tiêu dùng hoang phí thì chẳng khác nào gió vào nhà trống, rốt cuộc của cải vào lỗ hà ra lỗ hổng, làm bao nhiêu tay không vẫn hoàn tay không. Không phải ngẫu nhiên mà các nước có nền kinh tế phát triển, đời sống nhân dân rất cao người ta vẫn rất đề cao vấn đề tiết kiệm. Tiết kiệm đối với họ bao giờ cũng là quốc sách. Huống chi đối với ta, một đất nước còn nghèo, lại phải chịu hậu quả nặng nề của mấy cuộc chiến tranh tàn phá ác liệt, hiện đang cần phải xây dựng nhiều thứ, trước mắt có rất nhiều khó khăn, làm sao lại có thể lãng quên vấn đề tiết kiệm, chi tiêu một cách xả láng? Những người tự bỏ tiền túi của mình ra để tiêu xài lãng phí trong khi đất nước còn nghèo và có nhiều khó khăn đã là thất nhân tâm, rất đáng phê phán. Những người lấy tiền của của Nhà nước, của tập thể để chi dùng quá mức cho cuộc sống riêng của mình càng cần phải nghiêm khắc phê phán và tùy trường hợp phải bị xử lý thích đáng...
   Chúng ta không phản đối việc ăn ngon, mặc đẹp, ở rộng, đầy đủ tiện nghi, đi lại thuận tiện, dễ dàng; không bác bỏ cuộc sống đầy đủ, đàng hoang do thu nhập chính đáng bằng lao động của mỗi người đem lại, không đố kỵ với những người có điều kiện sống khá giả. Trái lại, sống sung sướng, hạnh phúc trong công bằng là mục đích của chủ nghĩa xã hội; chúng ta phấn đấu hy sinh là cốt làm cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình ngày càng được sung sướng hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng chúng ta không thể đồng tình với những lối sống quá cầu kỳ, hợm hĩnh, quá cách biệt, xa lạ với đời sống chung của mọi người lao động, không phù hợp với hoàn cảnh của đất nước. Đồng thời, chúng ta kiên quyết lên án những hành vi lợi dụng chức quyền tham ô, ăn cắp của công, làm lãng phí nghiêm trọng tài sản của Nhà nước và của tập thể để có cuộc sống xa hoa, phè phỡn.
Chúng ta phấn đấu hy sinh cốt làm cho cuộc sống của mỗi người ngày càng sung sướng, hạnh phúc hơn, nhưng không thể đồng tình với lối sống quá cầu kỳ, hợm hĩnh, cách biệt đời sống chung của người lao động; chúng ta càng lên án hành vi lợi dụng chức quyền, tham ô tài sản nhà nước để có cuộc sống xa hoa, phè phỡn.

Chính Trực @

Trung Quốc đừng dại thử lòng yêu nước của dân tộc Việt


Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.
Không rõ tinh thần yêu nước của dân tộc Trung Hoa như thế nào, bởi vì từ xưa Trung Quốc chỉ đi xâm lược, mở rộng lãnh thổ, nhưng khi bị các quốc gia khác tới xâm lược như Nguyên Mông, Anh, Nhật Bản thì họ đều thúc thủ và ý chí của họ thể hiện trong “Vạn lý trường thành”, trong cuộc biểu tình chống Nhật Bản mới đây…thì có lẽ chỉ họ mới hiểu, đánh giá được thực chất, sức mạnh kết nối lòng yêu nước của dân tộc họ.
Dân tộc Việt, lòng yêu nước được biểu hiện theo cách khác, đơn giản là “Sông núi nước Nam, vua Nam ở” nó đã “rành rành định sẵn” rồi. Kẻ nào, dù hung hãn đến đâu, xâm phạm là phải và bị đánh đuổi, đơn giản thế thôi. Về ý chí thì “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm 20 năm hoặc lâu hơn…”, “dù có đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành độc lập”…
Duy nhất một lần dưới triều Nguyễn, nhưng lịch sử thời đó vẫn còn vang vọng những cái tên hào hùng lẫm liệt của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, còn đó lời bất hủ của Nguyễn Trung Trực…và hơn 90 năm sau, năm 1954, dân tộc Việt đã vùng lên bằng trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.
Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam.
Mỹ thua Việt Nam có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân đầu tiên là Mỹ không hiểu dân tộc Việt. Chỉ đến năm 1972 khi Nixon bắt tay Mao Trạch Đông ở Thượng Hải thì người Mỹ mới tin rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đánh Mỹ là vì lý do thống nhất đất nước chứ không phải đánh Mỹ bởi tác động của Trung Quốc hay Liên Xô.
Máu xương của thế hệ ông, cha, anh đổ xuống để có hôm nay, cho con cháu một Việt Nam liền một dải, không như bán đảo Triều Tiên hiện giờ là quý báu biết chừng nào và đương nhiên chỉ ai là con cháu Lạc Hồng mới cảm nhận được.
Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.
Động thái hung hăng, ngang ngược, đe dọa gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc đòi độc chiếm 80%, xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt đang ngày càng được người Việt Nam trong và ngoài nước ý thức rất rõ ràng.
Sự việc đường “lưỡi bò” trên bản đồ; đèn lồng in chữ “Tam Sa”; sách vở in sai, có cờ Trung Quốc; siêu thị Big C bán nho…được sự “quan tâm” sát sao của dân cả nước là dấu hiệu của lòng tự tôn dân tộc, lòng yêu nước đang phát tiết mà không cần hô hào phát động.
Hành động rất nguy hiểm của Trung Quốc mới đây trên Biển Đông, dùng súng bắn cháy ca bin tàu đánh cá của ngư dân Việt trong vùng biển chủ quyền Việt Nam là hành động ngang ngược, độc ác, vô nhân đạo và chúng không hiểu được sức mạnh lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc.
Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ngày xưa (là niềm mơ ước của hạm đội Nam Hải-Trung Quốc ngày nay) khi Hải quân Việt Nam là con số “không” mà còn không dọa được Việt Nam thì vài chục con tàu giả dạng Hải giám, đằng sau có vài con tàu chiến tập trận, đã tỏ ra hung hăng, xua đuổi phi pháp tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam là có thể dễ dàng tác quái trên Biển Đông của Việt Nam ư? Họ đã lầm vì dân tộc Việt luôn yêu chuộng hòa bình, muốn là bạn với láng giềng một cách thân thiện, hữu nghị nhưng lòng yêu nước, bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của Việt Nam thì ngàn đời không thay đổi. Họ chỉ tổ tốn dầu và hao máy mà thôi. Hành động ngang ngược, ác độc, vô nhân đạo của Trung Quốc đã kích hoạt lòng yêu nước của dân tộc Việt.
Lịch sử vốn không bao giờ lặp lại, nhưng khi đã lặp đi lặp lại nhiều lần thì chứng tỏ điều đó đã trở thành quy luật khách quan, mà khi đã là quy luật thì đừng dại dột làm trái với nó.
Chỉ có kẻ điên mới mong có sóng thần để thử độ vững của đê chắn sóng.
LNT (BDVO) / Nguyễn Tấn Dũng

Các vị có thích Tự do ngôn luận?




Các vị có thích Tự do ngôn luận?

Các bạn thân mến,

Không thể trì hoãn lâu hơn, anh phải nói vài nhời. Anh rất bực khi không thể để lại còm bên nhà mấy vị nhân sĩ, trí thức làm dân chủ. Anh tự hỏi rằng, tự do ngôn luận kiểu gì? Dân chủ kiểu gì thế? Điều gì đang xảy ra với các nhân sĩ trí thức?

Này hỡi các vị nhân sĩ trí thức đang hung hăng trên truyền thông lề trái. Các vị tự hào rằng, chính các vị sáng tạo ra lề trái để chửi lại cái chế độ này, chỉ vì nó, cái chế độ đéo có tí dân chủ nào với các vị. Vì dân chủ sự nghiệp, các vị kêu gào tự do ngôn luận. Nhưng đáng phỉ nhổ thay, ngay một người yêu mến dân chủ như tôi cũng khó mà có thể để lại một cái còm có nội dung đầy chất xây dựng bên cờ lốc của các vị chứ chưa nói đến những tiếng nói trái chiều. Vậy nên, tự do ngôn luận cũng đéo thể có ngay trong chính tâm can của các vị. Tôi nói thế có sai?

Chỉ một điều đó thôi, cũng cho phép tôi cùng người khác nghi ngờ cái thực tâm dân chủ của các vị. Vì dân chủ hay vì tiền hay vì danh? Và kết cục của nó như thế nào?

Phong trào dân chủ đã qua nhiều năm, nhưng hãy thử hỏi rằng các vị đã làm được gì cho đất nước này, cho dân tộc này? Các vị nhân danh nhân dân để mở mang dân trí, khai quang đầu óc và tiến nhanh đến dân chủ bằng những cái xác chết và âm thanh reo hò của đám kền kền hay nhân sĩ quá đát, và nữa, các vị bưng bít thông tin, bợ đỡ ngoại bang nâng bi tâng bốc những thần tượng rởm đời mà xã hội phỉ nhổ, liệu có đáng không? Làm dân chủ mà như thế ư?

Còn nữa, các vị gồm những ai? một liên minh nhũng kẻ hết thời, cơ hội và chỉ giỏi đong xèng hay đánh bóng tên tuổi, vậy có vững vàng kiến tạo nền móng cho dân chủ nước nhà? Nếu các vị thật tâm, các vị đoàn kết và hơn người, tôi tin dân chủ sẽ đến với người dân thực chất hơn những gì mà các vị gào thét.

Kể từ khi các vị kêu gào dân chủ, kèm với nó các vị đòi tự do ngôn luận. Ừ thì ngôn luận tự do, chính các vị đang được hưởng cái tự do ngôn luận đấy thôi. Nó từ đâu đến? trên trời xuống ư? đéo phải, tôi cho là đéo phải, mà nó đến ngay từ ân sủng của chế độ này đối với các thần dân và các vị. Vậy khi đã có tự do ngôn luận thì các vị có làm được gì không? Câu trả lời không khó, bởi chả có cái đéo gì thay đổi ở xứ này cả. Các vị đã không làm được lời các vị nói, nhưng lại đổ cho thiếu tự do ngôn luận hoặc đổi lỗi cho nhau.

Nhưng các vị hãy quay lại gương và soi vào chính mình đi, hãy ngắm nhìn cái bản mặt các vị đi, có ra người không hay ra ngợm? Hãy tự hỏi xem, các vị giống ai? Nào, hãy sờ tay lên trán, bóp lên đầu và véo tai mình xem các vị có còn là công dân Việt không? Tôi cá là đa phần công dân Việt đều coi các vị là quái vật dị thường không hơn không kém bởi đơn giản là các vị chả có cái vị gì cả.

Gần đây, có dư luận nói, các vị ham hố kí cọt quá đấy, cái đéo gì cũng kí cũng bày trò, lại còn ham số lượng mà quên chất lượng nữa chứ. Đó là một sai lầm tai hại, nó phản ánh đúng bản chất và năng lực tư duy của các vị trong ván bài dân chủ. Làm việc lớn, mà chỉ nhìn thấy cái trước mắt cỏn con rồi xúm xít kí cọt kiến nghị theo lối vơ bèo bọt tép nên mới ra nông nỗi này. Kết quả, các vị bị dư luận tát vỡ mặt, còn người mà các bị bệnh vực thì sao? chỉ là những quân tốt thí hay cặn bã của xã hội mà thôi, chính các vị biết rõ.

Mẹ kiếp, cứ thẳng tưng mà nhận xét, các vị bị chửi vào mặt  vả vào miệng cũng rất đúng. Vì sao ư? vì các vị nói một đằng làm một nẻo. Các vị kêu gọi minh bạch và tự do cho mọi loại báo, từ báo đảng đến báo dân, từ báo hình đến báo nói và ngay cả đến báo mạng các vị cũng đòi tự do ngôn luận, đòi được quyền bình phẩm theo ý và như thế mới là tự do.

Thế nhưng thực tế thì sao? Chính các vị có dám để cho người đọc vào trang của mình để bình luận đâu? đúng không? Các vị sợ gì chứ? sợ người ta nói vạch ra cái sai của các vị à? sợ trái ý mình à? ồ, như thế là không trung thực và đéo công bằng gì cả. Các vị thật hàm hồ khi đòi hỏi người khác phải mở cửa cho mình bình luận, thậm chí ị bậy ở đó. Nhưng các vị thì không. Hèn, một lũ hèn, chính các  vị đang sợ hãi cái sản phẩm có tên gọi mến thương là "dân chủ" mà chính các vị tạo nên đấy. Thật chớ trêu, các vị toàn hạng nhà nầy nhà nọ, giải này giải nọ mà nói năng viết lách không biết giữ lời. Chỉ có vậy, thử hỏi các vị có làm dân chủ được không?

Nào, ta hay thử vào trang tin của Tễu Nguyễn Xuân Diện, Lê Hiền Đức, Ba Sàm hay Nguyễn Tường Thụy xem có đúng thế không? Hãy vào phần bình luận và bình đi, khen cũng  được mà chê cũng không sao. Các vị nên nhớ, kẻ chê ta là bạn ta, và vì thế không có gì mà phải hoắng lên cả. Xem nào, được không? Ôi, Đcm, sao lại phải chặn chứ, tự do cơ mà? Đấy, thấy chưa, các vị chỉ giỏi nói một đằng làm một nẻo, chỉ giỏi chê bai người khác, còn các vị thì sao? Chả khác đéo gì một thằng nhặt táo rơi chuồng bò bỏ vào mồm hoặc so sánh với bi rồi xấu hổ một mình.

Thưa các vị, tôi nói thế không phải để ghét các vị. Đừng tự ái kiểu con trẻ. Nào, bây giời thì tập trung vào mà làm việc. Hãy cất tiếng nói cho đàng hoàng, hãy công bằng mà phán xét và hãy tỉnh táo để mà hiểu và làm cái dân chủ cho nó ra hồn. Đừng có giở ông giở thằng và hơi tí thì tụt quần vạch vú lu loa ăn vạ chính quyền như một thằng hề ở xó chợ. Mẹ kiếp, thế thì nhục lắm các vị ạ. 

Chỉ có mỗi việc viết bài và cho dân chúng đọc để phổ quát các giá rị dân chủ mà các vị làm không xong. Nên nhớ dân chủ đích thực vẫn cần đến phản biện, tức tiếng nói trái chiều, vì thế, hãy để cho mọi người vào còm.

Mở cờ lốc cho bạn đọc vào còm cũng góp phần chứng minh các vị có liêm sỉ và biết giữ lời.

Đừng sợ, hãy mở to cửa ra, các vị sẽ gặt được nhiều hơn mất.

Cuộc đời “biến thái” của “bầy nhặng” phản động




   Trong những năm gần đấy, bọn phản động ngày càng ngang nhiên chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam ta, tôi xin phép được gọi bọn chúng là “bầy nhặng đầu đen” cho nó dân dã. Sự lớn lên của “bầy nhặng” ngày càng rõ, chúng chỉ sống bám vào những “đống rác thải” của các thế lực bên ngoài đất nước. Được ăn nhiều rác, được “bâu” nhiều, nhờ được bên ngoài huấn luyện cho “cách kiếm ăn bẩn thỉu” nên “bầy nhặng” ngày càng phát triển to ra, nhưng chúng chỉ to về phần xác chứ óc thì vẫn “bé tí ti” như ngày nào, do những con nhặng đầu đàn lần lượt “lên thiên đàng” chẳng để lại gì cho chúng để học hỏi nên chúng cũng vẫn chỉ là những con nhặng biến thái, bẩn thỉu, chỉ biết “ăn bám” vào các thế lực thù địch bên ngoài. Ngày ngày chúng kêu “vo ve” bên tai khiến chúng ta, nhân dân ta, Đảng ta đến phải đau đầu vì chúng. Tiếng kêu của chúng chẳng dễ chịu tí nào khiến ai ai cũng phải căm ghét bọn chúng. Từ những luận điệu bôi xấu Đảng, thì giờ đây chúng còn “điên cuồng” đến nỗi “bôi nhọ” cả Chủ tịch Hồ Chí Minh, hình tượng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Nhưng chúng cũng chỉ đến vậy thôi, chỉ biết “bâu và kêu” thế là giỏi chứ có biết làm gì hơn đâu, chúng chui rúc như “lũ chuột cống” hèn nhác chứ có dám lộ mặt công khai chống phá. “Bầy nhặng” chỉ trông chờ vào mấy đồng “$” từ bên ngoài bơm vào, khi không có “$” thì chúng tan tác, loạn lên như “ong vỡ tổ”, khi có “$” thì chúng oai lắm, mạnh mồm lắm. Nào thì vu khống Việt Nam không có tự do dân chủ, nhân quyền, nào thì Việt Nam đàn áp tôn giáo, không có tự do ngôn luận còn rất rất nhiều lời lẽ vu khống khác mà chúng dựng lên để làm giảm uy tín của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
 

   Nhưng cuối cùng thì chúng cũng chẳng thể “diễn trò lừa bịp” được ai, nhân dân Việt Nam thừa biết bản chất “thối tha” của bọn chúng, chúng không làm được gì trong nước thì chúng lại vượt biên “lẩn trốn” ra nước ngoài ở “tị nạn” bên đó rồi dùng những thủ đoạn “bẩn thỉu” để tuyên truyền những luận điệu phản động mê hoặc, lừa dối kiều bào ta ở nước ngoài ủng hộ cho chúng. Nhưng cũng như ở trong nước thì bọn chúng cũng lộ rõ bản chất phản động “gian ngoan, xảo quyệt” của mình sau một thời gian ngắn. Cuối cùng cuộc đời của chúng cũng kết thúc trên những bãi rác ở nước ngoài, mãi mãi không được trở lại quê hương bản sứ, nơi chôn rau cắt dốn của mình. Đúng là một kết cục thảm hại cho những “con nhặng” trong “bầy nhặng” đó!

Hoàng Trường

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

“Chủ nghĩa cá nhân, lợi ích vật chất” - bản chất của những kẻ phản động.



   “Đa nguyên, đa đảng” có thể đảm bảo quyền làm chủ thực sự của nhân dân Việt Nam không? Hiện nay, trên các trang web, blog của các thế lực thù địch có nhiều những luận điệu cho rằng Việt Nam phải “xóa bỏ điều 4 Hiến pháp”, “Đa nguyên, đa đảng”, vậy thì những kẻ viết nên những lời đó có bao giờ đặt cho mình một câu hỏi là “Đa nguyên, đa đảng”có thể đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân không? Có mang lại hòa bình, ổn định cho đất nước Việt Nam hay không? Nhân dân Việt Nam có ấm no, hạnh phúc hơn không? Tôi chắc rằng những kẻ đó không bao giờ tự mình đặt ra những câu hỏi như vậy, bọn chúng chỉ vì lợi ích của chính bản thân mình mà “sủa” những lời lẽ phản động như vậy. Bản chất của những kẻ đó chỉ vì những lợi ích cá nhân của riêng chúng mà thôi. “Đa nguyên, đa đảng”, “tự do dân chủ”, “tự do dân tộc, tôn giáo” chỉ là những luận điệu vô căn cứ, chỉ đại diện cho một nhóm nhỏ người mà vì lợi ích của chính bản thân mình. Những kẻ này là những kẻ lợi dụng lòng tin của một bộ phận nhỏ nhân dân Việt Nam mà hoạt động, nào thì chúng dương cao ngọn cờ “dân chủ nhân quyền” ở Việt Nam, vu khống “Việt Nam không có tự do dân tộc, tôn giáo”, “chính quyền cộng sản cướp đất của dân” và nhiều vấn đề khác nữa. Những luận điệu kiểu như vậy xuất hiện rất nhiều trên nhưng trang blog, website phản động. Mỗi chúng ta hãy cảnh giác với những luận điệu đó, hãy nhìn nhận vấn đề  khách quan để đánh giá một cách đúng đắn, đừng để các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền. Chúng ta hãy đặt câu hỏi, bọn chúng có những luận điệu đó là vì mục đích gì? Chung quy lại chắc chắn rằng bọn chúng cũng chỉ vì mục đích nâng cao “lợi ích cá nhân” của chính bản thân.

   Thứ nhất, lợi ích cá nhân được biểu hiện bằng lợi ích vật chất mà biểu hiện rõ nhất là  “tiền”, thứ mà nhiều người đã phải “quỳ gối” trước sức mạnh của nó, bọn phản động cũng không ngoại lệ. Có một câu hỏi rằng tiền cung cấp cho bọn chúng ở đâu ra? Chắc chắn rằng tiền hàng ngày bọn chúng nhận được là do các thế lực thù địch bên ngoài “tài trợ”, hay nói cách khác là “bơm” vào rất nhiều để bọn phản động như chúng có thể hoạt động “tích cực” được, nếu mà chúng không nhận được nguồn “tài trợ” dồi dào từ các thế lực thù địch bên ngoài này thì chắc chẳng bao giờ chúng có thể “chửi bới” một cách “quyết liệt”, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam ta như vậy được. Nhưng mặt khác, vì tiền chúng có thể làm tất cả, không từ một thủ đoạn nào, ngay cả việc nói xấu chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của nhân dân Việt Nam, Người anh hùng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, một vĩ nhân đã được thế giới công nhậm. Một biểu hiện cho thấy chúng hoạt động cũng chỉ vì “tiền” đó là chúng đấu đá nhau bằng những cuộc “khẩu chiến”, chúng có bài viết “rất hài” mà đọc xong chúng ta thấy như một câu chuyện cười “kiểu trẻ con” vậy, nhưng qua đó có thể thấy “lộ” rõ bản chất “bẩn thỉu” của chúng, nhiều những bài đăng trên các trang blog, web của chúng không nhằm vào Đảng và Nhà nước ta mà những bài viết này là những bài viết về việc “chia chác tiền” giữa bọn chúng không đều dẫn đến tranh chấp lẫn nhau, kiểu tranh giành này được ví như “những đứa trẻ tranh dành đồ chơi” rất lộ liễu, nguyên nhân ở đây là gì? Chắc là do tiền mà các thế lực bên ngoài “bơm” cho chúng được chia không đều nhau nên bọn chúng mới “tranh chấp quyết liệt” chửi bới lẫn nhau như vậy, kẻ được chia ít chửi kẻ được nhiều, mà kẻ được nhiều lại muốn được nhiều hơn, rồi tranh nhau công trạng để được hưởng phần nhiều.  Bản chất của bọn phản động chống phá lại ta cũng chỉ vì lợi ích vật chất tầm thường, mà rõ hơn là “vì tiền”, những đồng tiền “dơ bẩn”. Suy cho cùng dù bọn phản động này cùng phe với nhau nhưng chắc gì đã đoàn kết với nhau, chỉ lợi dụng nhau là chính chứ khi hết giá trị lợi dụng thì chúng đem nhau ra mà chửi bới, tranh giành lẫn nhau.

   Thứ hai, “lợi ích cá nhân” của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị phản động này không chỉ thể hiện là lợi ích vật chất như trên mà còn thể hiện những “lợi ích chính trị” của chính bản thân bọn chúng. Bọn chúng muốn qua những luận điệu của mình mà khuếch trương thanh thế để được quần chúng nhân dân ủng hộ chúng, nào thì bày đặt ta đây là “nhà dân chủ, nhân quyền”, nào thì ta đây là “nhà dân tộc, tôn giáo”, “nhà chính trị đích thực” còn rất nhiều loại “nhà” khác nhau nữa, nhưng nói chung đều là những “nhà siêu chém gió, siêu khoác lác”, cũng có thể gọi bọn chúng là “nhà WC”. Bọn chúng dung những lời lẽ vô căn cứ để mua chuộc, mê hoặc một bộ phận nhẹ dạ cả tin trong quần chúng nhân dân ta theo chúng, chúng dựng lên ngọn cờ “tự do, dân chủ”,  đòi Đảng ta phải “xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, đa nguyên đa đảng, tự do dân tộc, tôn giáo”, để lừa lọc nhân dân tin theo chúng. Nhưng mục đích cuối cùng của bọn chúng là muốn Việt Nam mất ổn định về chính trị, từ đó chúng được các thế lực thù địch ngoài nước hỗ trợ về vật chất cũng như gây áp lực với Đảng và Nhà nước ta phải cho bọn chúng thành lập những “khu tự trị”, “đảng phái” đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, tranh giành quyền đoạt lợi với nhau. Chúng hứa này hứa nọ với những người tin theo chúng nhưng cuối cùng chính những kẻ phản động cầm đầu mới là người được hưởng lợi. Chúng muốn tự trị, muốn Việt Nam mất ổn định chính tri, muốn Việt Nam trở về hơn 1000 năm về trước đó là “Loạn 12 sứ quân”. Nhưng nếu bây giờ đất nước ta mà mất ổn định chính trị thì chắc phải “loạn vài ba chục cái sứ quân” là còn ít, mỗi đảng phái nắm giữ một phương, đất nước có thể bị chia thành nhiều vùng, “đoàn kết toàn dân” sẽ dần bị xóa bỏ, nhân dân sẽ không có cuộc sống yên ấm, ổn định và dần dần sẽ lâm vào tình trạng đói nghèo, khổ cực, đất nước thì chia cắt, kinh tế sẽ ngày càng lạc hậu. Bất ổn về chính trị có thể xảy ra các cuộc nội chiến như một số nước hiện nay: Lybia, Syria, Ai Cập,… các thế lực bên ngoài thì luôn nhòm ngó chờ thời cơ can thiệp sâu vào công việc nội bộ đất nước Việt Nam ta để áp đặt những điều chúng muốn mà có lợi cho chúng.

   Như vậy những kẻ phản động chỉ vì một lợi ích duy nhất là “lợi ích cá nhân” của chính chúng, chúng nào quan tâm đến lợi ích của toàn thể nhân dân, dân tộc Việt Nam, của đất nước Việt Nam. Bọn chúng cũng chỉ vì cái “tôi”, “chủ nghĩa cá nhân, lợi ích vật chất” của chính bọn chúng mà quên đi lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam, đúng là những kẻ “vô lại”, có khi chúng còn sẵn sàng “cõng rắn cắn gà nhà” để đổi lấy điều chúng muốn.

   Đất nước ta đang đà phát triển theo đúng định hướng của Đảng và bác Hồ đã chọn, đó là con đường “đi lên chủ nghĩa xã hội”, chỉ có con đường này mới đưa nhân dân ta thoát khỏi đói nghèo, đưa nước ta vươn đến những tầm cao mới, ngày càng khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Nhưng quan trọng hơn cả, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đem lại quyền làm chủ đích thực cho nhân dân, dân tộc Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ muốn “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “nâng cao đạo đức cách mạng”, xây dựng một nước Việt Nam phồn thịnh, mà ở đây không vì một mục đích vụ lợi cá nhân nào cả. Tôi, các bạn và toàn thể nhân dân Việt Nam đang được sống trong một xã hội ổn định, kinh tế phát triển, cuộc sống ấm no, Việt Nam đang là hình ảnh đẹp trong mắt bè bạn quốc tế. Vậy chúng ta còn muốn gì hơn nữa, hãy đọc và cảnh giác với những luân điệu xuyên tạc, phản động vô căn cứ của những kẻ chỉ vì lợi ích của bản thân mà bán dẻ đất nước, đó là những tên phản động “rác rưởi”.


Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng – một con người bình dị



Vào Google, lướt qua mấy trang mạng, gõ từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mà toàn thấy mấy cái tin bịa đặt, bêu xấu TBT, thậm chí còn có những bài viết ngôn ngữ tục tỉu được đặt lên trên hàng đầu, trong khi các tin chính thống về Nguyễn Phú Trọng  thì được xếp sau sau cùng, hay khó tìm thấy. Rồi từ đó, người ta lại tò mò “search” (tìm kiếm) này nọ, lao vào đọc mấy cái blog phản động để biết thông tin. Đó là lũ phản động, rảnh rỗi lên mạng viết những lời lẽ nói xấu hình ảnh của lãnh tụ, chúng chỉ muốn phá hoại cuộc sống ấm no của nhân dân, chế độ này.

Khi nhậm chức Chủ tịch Quốc hội, người đứng đầu Quốc hội khóa XII đã phát biểu rất khiêm nhường “chưa hiểu biết nhiều về công tác lập pháp và hoạt động nói chung của Quốc hội”, mặc dù ông được coi là một trong những nhà lý luận chính trị xuất sắc của Đảng ta. Sau 5 năm hoạt động, Quốc hội Khóa XII được coi là nhiệm kỳ thành công nhất của Quốc hội nước nhà, đặc biệt là trong khâu giám sát. Thành công này có vai trò hết sức quan trọng của Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng, người vừa được bầu làm người đứng đầu Đảng CSVN.
Nghị trường sôi động
Một trong những đại biểu Quốc hội kỳ cựu (kỳ cựu bởi ông là đại biểu 3 khóa liền: X, XI và XII), ông Nguyễn Lân Dũng cho rằng, nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XII là nhiệm kỳ thành công nhất mà ông từng biết, đặc biệt là trong khâu giám sát.
Một tinh thần dân chủ, cởi mở, thẳng thắn và chân thành đã giúp cho sinh hoạt của Quốc hội có chất lượng cao hơn. Chính tinh thần này đã làm cho các đại biểu Quốc hội bộc lộ và thực thi trách nhiệm một cách cao nhất trong vai trò đại diện của dân. Khâu chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp, mặc dù có lúc, có chỗ căng thẳng, gay gắt, nhưng đều mang tính xây dựng, chân thành, và vì thế đạt hiệu quả cao.
Những thành công này của Quốc hội Khóa XII có vai trò rất quan trọng của Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng, mặc dù, ngày 26/06/2006, khi nhậm chức, người đứng đầu Quốc hội Khóa XII đã phát biểu rất khiêm nhường: “chưa hiểu biết nhiều về công tác lập pháp và hoạt động nói chung của Quốc hội”.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng điều hành kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XII (ảnh: TL)

Về thành công của Quốc hội Khóa XII ông Nguyễn Lân Dũng lý giải: “Theo tôi, trong nhiệm kỳ này đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm tốt vai trò của Chủ tịch Quốc hội. Ông tham gia trực tiếp các cuộc họp từ toàn thể đến họp đoàn, nhờ đó giúp người đứng đầu có những chỉ đạo sâu sát, có tư duy thông thoáng nhưng hợp lý trong việc giải quyết từng vấn đề – nhờ đó Quốc hội hoạt động được thuận lợi hơn nhiều”.
Nhớ lại các buổi chất vấn, ông Nguyễn Lân Dũng nói: “Cũng có người nói Quốc hội có lúc hơi quá đà, nhưng tôi không nghĩ đến mức đó, có thể trong quá trình thảo luận, chất vấn, nhiều ĐBQH hơi nặng lời – nhưng đã được người chủ trì nhắc nhở rất nhã nhặn. Chủ tịch cũng rất tôn trọng các Phó Chủ tịch Quốc hội, khi cùng ngồi ở vị trí chủ tọa nhưng Chủ tịch đã để các Phó Chủ tịch điều khiển cuộc họp, trừ những nội dung rất quan trọng. Chủ tịch chỉ có mặt để phối hợp, chấn chỉnh chứ không hề ôm đồm, bao biện. Ngoài giờ họp, khi gặp gỡ với các ĐBQH ngoài hành lang, Chủ tịch Quốc hội rất thoải mái, thân tình, biểu hiện tinh thần bình đẳng trong Quốc hội”.
Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng khiến người tiếp xúc thấy rất gần gũi (ảnh do GS Nguyễn Lân Dũng cung cấp).
Có cùng nhận xét như ông Dũng, một Đại biểu QH Khóa XII khác là ông Nguyễn Đình Xuân bổ sung: “Tôi thấy, về phương pháp làm việc và điều hành thì Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng có kỹ năng cầm trịch, bao quát được diễn biến của Quốc hội, để kỳ họp diễn ra có chừng mực, không quá đơn điệu, nhưng cũng không quá gay gắt”.
Còn gương mặt khá quen thuộc tại các diễn đàn Quốc hội Khóa XII Nguyễn Ngọc Đào thì nhấn mạnh: “Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII là nhiệm kỳ thể hiện rõ đổi mới của Quốc hội ở vai trò phản biện tích cực với các hoạt động của Chính phủ. Đây là kết quả của sự giám sát tích cực của Quốc hội, ví như trong dự án đường sắt cao tốc, dự án bôxit Tây Nguyên hay vụ Vinashin…”.
Người học trò nghèo
Trên chốn công đường, ông là người “cầm cân nẩy mực” dân chủ, công bằng, kiên quyết và hiệu quả. Tuy nhiên trong cuộc sống đời thường ông lại là người chân thành, bình dị, rất dễ gần, hòa đồng. Nhà giáo ưu tú Đặng Đình Đại, nguyên Hiệu trưởng THPT Nguyễn Gia Thiều, nơi mà Tân TBT Nguyễn Phú Trọng học thuở thiếu thời, kể: “Cách đây gần 10 năm, tập thể giáo viên học sinh trường THPT Nguyễn Gia Thiều tổ chức buổi gặp mặt các cựu học sinh từng học tại trường những năm 1960 để mừng thọ thầy giáo Nguyễn Văn Quế 75 tuổi. Sáng hôm đó, chúng tôi thực sự bất ngờ khi anh Nguyễn Phú Trọng, khi đó đã là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội lại tới trường bằng xe máy.
Tân TBT Nguyễn Phú Trọng và các thầy giáo: Nguyễn Duy Ninh, Đoàn Thanh, Vũ Huy Đông, Trần Thái Bình (ảnh: TL)
Và trong khi, nhiều cán bộ khi đó giữ vị trí lãnh đạo tại TP Hà Nội và huyện Gia Lâm, cũng từng là học trò của thầy Quế đề nghị đi ô tô để mời thầy về trường thì anh Trọng lại kiên quyết đi bộ, dẫu quãng đường từ trường đến nhà riêng của thầy Quế cũng chẳng gần”.
“Hình ảnh ấy của đồng chí Trọng quả thực đã để lại ấn tượng rất đẹp trong lòng mọi người. Một cán bộ cấp cao nhưng hoàn toàn không có sự quan cách. Và trên hết, đó là hình ảnh một người lãnh đạo giữ vững nghĩa tôn sư trọng đạo”, thầy Đại nói.
Có lẽ trong số những người thầy, người cô từng có thời gian giảng dạy Nguyễn Phú Trọng, thầy Lê Đức Giảng, giáo viên chủ nhiệm lớp 9B mang theo mình nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất về người học trò này.
“Tôi về công tác tại trường từ năm học 1961 – 1962, được phân làm chủ nhiệm lớp 9B. Khi ấy, anh Trọng vừa là Bí thư Chi đoàn, vừa là lớp trưởng lớp 9B. Phải thú thật, có một cán bộ lớp như  anh Trọng, tôi rất… nhàn. Trong những giờ sinh hoạt lớp thì Trọng làm tất cả.
Người học trò này rất giói quán xuyến tình hình của lớp, đặc biệt các bạn trong lớp rất “nể” Trọng vì cách nói năng và truyền đạt rất tốt. Tôi chỉ tham gia một vài ý kiến sau khi lớp sinh hoạt”.
Cũng theo thầy Giảng, đến nay mỗi khi hai thầy trò gặp lại nhau, cả hai đều nhắc lại kỷ niệm những buổi tối Nguyễn Phú Trọng mang theo sách vở qua phòng thầy học nhờ bởi chỗ trọ thiếu đèn lại “thừa” muỗi. Những hôm trời mưa, hai thầy trò run lập cập trong tấm chăn chiên mỏng manh và thức thâu đêm.
Còn khi nhắc về người học trò vốn nổi bật với năng lực lãnh đạo tập thể, thầy giáo Đoàn Thanh, nguyên hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Gia Thiều (1960 – 1964) năm nay đã 84 tuổi bùi ngùi hồi tưởng: “Quả thực từ ngày đó, tôi đã có ấn tượng rất đặc biệt với trò Trọng. Tôi còn nhớ rất rõ, do nhà nghèo lại ở xa, nên Trọng phải trọ học trong một ngôi chùa gần trường. Đã có nhiều thầy cô giáo nói với tôi về tư chất, năng lực lãnh đạo đoàn thể của cậu trò này.
Khi đó, anh Trọng giữ cương vị là Hiệu đoàn trường, phụ trách khối thanh niên. Để hình dung hết cái khó khăn của Trọng thì phải nhắc lại rằng, thời điểm ấy trường THPT Nguyễn Gia Thiều mới thành lập, hàng trăm học sinh đến từ nhiều vùng miền khác nhau”.
“Nhưng điều làm tôi nhớ nhất về trò Trọng, chính là sự cẩn trọng trong học tập và mọi công việc. Với trò này, chúng tôi chưa một lần phải nhắc nhở trong chuyện học hành hay trong cách cư xử”.

Thầy giáo Đoàn Thanh kể lại kỷ niệm về học trò Nguyễn Phú Trọng (ảnh: Nam Phong)
Tuy nhiên kỷ niệm sâu sắc nhất về học trò Nguyễn Phú Trọng đã đi theo thầy Đoàn Thanh suốt mấy chục năm nay, như là hình ảnh đẹp nhất về một trong thế hệ đầu tiên lớn lên dưới mái trường XHCN, được ông nhớ lại: “Năm 1963, trên bộ bất ngờ có chỉ thị là khuyến khích học sinh không cần phải thi đại học mà ở quê nhà phục vụ quê hương hoặc đi bộ đội. Ngày ấy chúng tôi có 3 lớp 10A, 10B và 10C, tôi đã truyền đạt ý này và không có em nào đăng ký thi đại học. Nhưng sau đó, Bộ GD&ĐT có văn bản đề nghị phải có người thi đại học, một số học sinh lại đăng ký thi đại học, trong số này có Trọng. Cũng trong năm đó, Trọng thi đỗ vào khoa Văn, trường Đại học Tổng hợp”.
Tuổi thơ bình dị
Trong những ngày rét buốt giữa tháng 1/2011, chúng tôi đã về thôn Lại Đà, xã Đông Hội (Đông Anh, Hà Nội), nơi Tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sinh ra và lớn lên. Đây là một làng quê, thân thuộc, thanh bình với những người nông dân hiền hậu nhưng chăm chỉ và phong trào hiếu học truyền thống. Dọc theo lối vào làng là những chiếc cổng được xây dựng theo lối kiến trúc Bắc Bộ; những ngôi nhà 3 gian lợp ngói san sát nhau hai ven đường vẫn còn giữ lại được cái vẻ thanh bình của một ngôi làng Bắc Bộ từ hơn một nửa thế kỷ trước.
Cụ Ngô Bá Dục đang xem lại những bức ảnh kỷ niệm sau những lần họp lớp của mình có người bạn Nguyễn Phú Trọng tham gia (ảnh: Quang Tùng)
Nhà đầu tiên mà chúng tôi tới thăm là nhà cụ Ngô Bá Dục, ở xóm 7, nằm ngay giữa thôn. Trước đây cụ Dục là Hiệu trưởng của trường cấp 3 Cổ Loa (từ năm 1991 đến năm 2003) và cũng là bạn học từ nhỏ với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho đến hết cấp 3.
Tại đây cụ Dục đã kể cho chúng tôi nghe về người bạn thời thơ ấu Nguyễn Phú Trọng, kể về những kỷ niệm đã theo ông cùng năm tháng mà ông không thể quên. “Từ những năm 1953 – 1954 làng không có trường học, nhưng may thay trong làng có cụ giáo Cầm đã ra mở lớp ngoài đình để dạy học cho mấy đứa trẻ. Thời đó cả thôn chúng tôi có hơn 40 người theo học cụ giáo Cầm. Trong lớp, có người mới chỉ bắt đầu học a bờ cờ, có người đã học tính toán. Cụ Cầm biết được những gì cụ dạy hết. Nổi bật nhất trong đám chúng tôi có cậu Trọng con bác Nội ở ngay đầu làng học rất khá nên được cụ giáo Cầm rất quý.
Trọng là con út trong gia đình có 4 anh chị em, sinh ra trong một gia đình thuần nông. Trọng có dáng người nhỏ bé, nhưng đôi mắt thì lại sáng lạ thường. Đặc biệt, ngoan hiền và rất chăm chỉ học tập”.
Ông Dục còn nhớ, ngoài làm nông, gia đình nhà ông Trọng còn làm bỏng mật. Những buổi chiều tan học về lũ trẻ trong xóm thường được ông Nguyễn Phú Nội (cụ thân sinh ra TBT Nguyễn Phú Trọng-NV) gọi vào cho ăn bỏng mà không lấy tiền. Những lúc ấy, bọn trẻ con trong thôn rất thích. Mỗi lần vào cho bỏng cụ Nội thường khuyên phải chăm học, đoàn kết, giúp đỡ thương yêu lẫn nhau để sau này thành tài.
Sau khi hòa bình lập lại (1954 – 1956) ông Dục cùng ông Trọng là lứa học sinh đầu tiên của xã học hết cấp 1. Sang cấp 2, do ở xã không có lớp để học tiếp ông Dục cùng 19 học sinh khác, trong đó có ông Trọng phải sang xã Mai Lâm cách nhà 5 cây số để theo học.

Ông Nguyễn Phú Trọng chụp ảnh chung cùng bạn bè tại đình làng thôn Lại Đà trong một dịp về thăm quê (ảnh: TL)
Thường ngày lũ trẻ con trong làng vẫn thường tụm lại rồi gọi nhau đi học. Trong quãng thời gian học lớp 4, ông Dục vẫn còn nhớ rất rõ, cô giáo của lớp khi đó là cô Đặng Thị Phúc mới chỉ 22 tuổi nhưng đã có những đánh giá rất tinh tế và chuẩn xác. Trong lễ tốt nghiệp, cậu Trọng được cô Phúc đánh giá là một trong ba học sinh giỏi nhất lớp. Hai người khác cô chỉ khen chứ không công nhận xuất sắc còn ông Trọng được cô công nhận là xuất sắc. Ngoài tấm bằng khen ông Trọng còn được thưởng một bức họa báo có 1 tờ can mấy trang liền nhau mang tên là “Nước non nghìn dặm”.
Năm 1957 – 1958 sau khi tốt nghiệp, lẽ ra các ông phải lên Bắc Ninh để học tiếp cấp 2, cấp 3 nhưng do năm đó đã xảy ra trận vỡ đê ở Mai Lâm nên đã phải sang Gia Lâm, Hà Nội gửi học tại trường Nguyễn Gia Thiều.
Do học xa nhà nên trong quá trình học tập, những cậu học trò của thôn Lại Đà thường xuyên giúp đỡ nhau trong quá trình học tập. Ở lớp, học trò Nguyễn Phú Trọng là người khá nhất, đặc biệt nổi trội về môn Văn và vẫn thường được mọi người khen là điềm đạm, cẩn thận, hiền lành, được bạn bè quý mến. 
Chính Trực@ - St

 

Thống kê

  • bài viết
  • bình luận

Rank Blog

Lượt xem

.
Chia sẻ