Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Quan hệ Việt - Trung là quan hệ nhạy cảm, tại sao?



Thời gian vừa  một bộ phận trong dư luận , và cũng không ít thành phần phản động trong và ngoài  nước thường cho rằng Đảng, Nhà nước, Chính phủ, những người lãnh đạo CHXHCN Việt Nam, hoặc những bộ phận của Đảng và Nhà nước cộng sản là “hèn nhát” những kẻ bán nước  trước Trung Quốc mỗi khi Việt Nam làm cái này hoặc không làm cái kia, đặt nặng vấn đề này hoặc không đặt nặng vấn đề kia.

Tôi xin biên tập lại bài viết của blogger Thiếu Long để cho độc giả có thể hiểu một cách toàn diện về mọi mặt của vấn đề trong mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc
Bài viết có hể hơi dài hợp hơn với nhưng người có tính kiên nhẫn. Nhưng đây là một bài viết khá sâu sắc, bổ ích.

Tôi thì chỉ nhìn vào vấn đề chính, cái cốt lõi nhất, đó là khi có xâm lược thì Việt Nam sẵn sàng đánh xâm lược và khi giặc chưa xâm lược thì Việt Nam đang tích cực bảo vệ chủ quyền bằng cách: Liên tục và thường xuyên tuyên bố khẳng định chủ quyền, phản đối Trung Quốc, và hiện đại hóa quân đội, nâng cao hệ thống phòng thủ và tăng cường năng lực tác chiến phòng thủ, đặc biệt đảng và nhà nước Việt Nam ưu tiên lực lượng hải Quân Lên thẳng hiện đại . Nghĩa là tất cả những gì liên quan đến chủ quyền thì chúng ta đều đã và đang làm, bất kể điều này đối nghịch với lợi ích và những tuyên bố của phía Trung Quốc, bất kể những điều này có làm Trung Quốc tức giận hay không.
Có rất nhiều nguyên nhân khiến quan hệ Việt – Trung là mối quan hệ nhạy cảm và Trung Quốc luôn là bóng ma ám ảnh cho chủ quyền Việt Nam và là mối đe dọa lớn nhất cho chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

Có rất nhiều nguyên nhân vì sao các lãnh đạo Việt Nam coi đây là vấn đề nhạy cảm, và trong đó đều là những nguyên nhân khách quan với mong muốn trước hết là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, sau là bảo vệ hòa bình, tránh chiến tranh tàn phá đất nước, chiến sĩ hy sinh, đồng bào đổ máu, bao nhiều thành tựu từ Đổi mới, bao nhiêu nỗ lực xây dựng đất nước và hồi phục suy thoái kinh tế toàn cầu trở thành công cốc. Chứ trong đó không có cái gì là từ sự nhát, sợ Trung Quốc, hay hèn như một số người đã lầm tưởng.

Hiện Trung Quốc là quốc gia duy nhất trên thế giới có nguy cơ xảy ra chiến tranh với Việt Nam nhất. Do địa lý gần gũi thuận lợi, do có mâu thuẫn trực tiếp chủ quyền lãnh thổ và những nguồn lợi kinh tế biển, trong đó có những nguồn dầu ở Biển Đông.

Trung Quốc chưa gây chiến, chưa xâm lược là vì họ vẫn còn đang muốn giữ hòa bình để tập trung phát triển kinh tế và đang chưa có cái cớ nào khả dĩ để mà có thể dùng làm chiêu bài chính trị. Khi phe hiếu chiến lên nắm quyền, thì bất kỳ 1 chuyện nhỏ nào cũng có thể được dùng để khai thác, đào bới, khoét sâu, thổi phồng lên để hình thành 1 chiêu bài chính trị gây chiến.

Đừng tưởng sự dung dưỡng, thả lỏng đối với những chuyện nhỏ không thể tích tụ thành một chuyện lớn, tạo điều kiện cho Trung Quốc tuyên truyền thổi phồng, nâng cao quan điểm, leo thang mâu thuẫn, leo thang xung đột, từ khẩu chiến đến chiến tranh lạnh rồi tới xung đột quân sự, rồi tới chiến tranh toàn diện chỉ trong tích tắc (xem cuộc chiến 1979).

Đối với Trung Quốc là sự chưa muốn gây chiến. Còn đối với Việt Nam là sự hoàn toàn không muốn có chiến tranh lúc này. Việt Nam đang “sợ” chiến tranh hơn Trung Quốc là vì Việt Nam có nhiều thứ để mất hơn Trung Quốc, thế yếu hơn Trung Quốc, và tiềm lực quân sự, nhất là không quân và hải quân có thể tác chiến trên biển kém xa Trung Quốc. Thực lực đôi bên có một khoảng cách khá xa . Thực lực tổng thể đã một trời một vực, thực lực quân sự trên biển và trên không cũng còn một khoảng cách rất xa.

Nếu chiến tranh trên bộ thì Trung Quốc chắc chắn sẽ có kết quả tương tự như năm 1979, không có cơ hội nào thôn tính Việt Nam. Nhưng nếu là những trận đánh trên biển trong 1 hình thái chiến tranh mới, phụ thuộc nhiều vào sức mạnh vũ khí không quân và hải quân để làm chủ vùng trời và vùng biển thì hầu như chắc chắn Việt Nam sẽ thua và bị mất thêm chủ quyền, hầu hết các chuyên gia quân sự quốc tế đều đồng thuận với nhau về điểm này. Bởi vì trên biển và trên không, Việt Nam không thể áp dụng chiến tranh nhân dân và khó thể áp dụng chiến tranh du kích như trên bộ.

Trong cuộc chiến, sự thiệt hại của Trung Quốc nếu có chỉ sẽ là rất nhỏ so với thực lực tổng thể của họ, họ sẽ tốn thật nhiều lính mà họ có thể đang ngầm muốn chết bớt do nạn dân số và trai thừa gái thiếu, họ đang muốn “tống khứ” bao nhiêu đàn ông Trung Quốc đi ra nước ngoài qua nhiều hình thức khác nhau còn không kịp thì họ sẽ không tiếc sinh mạng những người lính. Nhưng Việt Nam thì tiếc mạng sống binh sĩ và đồng bào.

Có thể Trung Quốc sẽ mất vài tỷ đô la, một phần vũ khí sẽ bị hư hại, một số tàu sẽ chìm, rồi sao? Họ còn bao nhiêu tiền với tiềm lực kinh tế đó và còn bao nhiêu vũ khí khác chưa dùng và họ rất sẵn sàng mua lại hoặc chế mới để bổ sung, hiện họ vẫn đang mua sắm và sản xuất đều đặn.

Dù Việt Nam có thể tiếp nối truyền thống lấy ít địch nhiều, nhưng trong 1 cuộc chiến tranh trên biển, dù 1 tàu Việt Nam, 1 máy bay Việt Nam thiện chiến nhất thế giới thì cao lắm có thể chọi 3 tàu địch, máy bay địch, Việt Nam sẽ gây thiệt hại nặng cho địch về vũ khí, mạng đổi mạng với địch, nhưng sau khi ta hết vốn, địch cho bổ sung thì ta sẽ đưa lưng ra chịu đòn. Rồi sẽ có bao nhiêu Gạc Ma khác, có bao nhiêu Vòng tròn bất tử khác, bao nhiêu Quảng Trị khác (Năm 1972, Quân Giải phóng miền Nam không có không quân và hải quân nên trơ trọi chịu trận trước không quân Mỹ và Hạm đội 7 của Mỹ dội bom và pháo kích vào, quân đội ban đầu có cả ngàn người nhưng không còn bao nhiêu người sống sót, nhưng quyết bám đất đến cùng, không bỏ chạy, đó cũng là 1 Vòng tròn bất tử trong thời chống Mỹ.). Rồi ta sẽ mất bao nhiêu bãi Gạc Ma nữa, bao nhiêu người sẽ hy sinh nữa?

Và đáng lo nhất là sau 1 cuộc chiến hết vốn, địch vẫn còn vốn và tiếp tục mua mới, sản xuất với tiềm lực kinh tế đó, còn ta thì biết bao giờ mới xây dựng lại được 1 lực lượng hải quân tạm có tính răn đe như hiện nay? Bao giờ mới có lại những vũ khí hiện đại đó? Những anh bạn “không hèn” có sẵn sàng thắt lưng buộc bụng để cho Việt Nam có thể áp dụng chính sách Tiên quân (quân đội trước) như Triều Tiên hay không?

Khi nói, phán, chửi, chê thì rất dễ, không có gì dễ hơn, nhưng khi bắt tay trực tiếp vào làm mới thấy bao nhiêu chuyện. Đứng ngoài phê phán thì bao giờ cũng là dễ nhất.

Lực lượng hải quân và không quân Việt Nam hiện nay tuy đang được hiện đại hóa, nhưng nó vẫn chỉ có tính răn đe, làm cho Trung Quốc chùn bước phần nào vì sợ tổn thất vũ khí và tiền bạc, chứ nó chưa đủ sức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nếu có 1 cuộc chiến tranh toàn diện tại đây. Hải quân Trung Quốc năm 2012 ngày nay không phải là hải quân lạc hậu năm 1988.

Vì những lẽ đó, mới có xu hướng nhường nhịn, lấy đại cuộc làm đầu, 1 câu nhịn 9 câu lành để bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ gìn hòa bình và sự ổn định trong khu vực. Vì khi có chiến tranh, Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ mất thêm chủ quyền, mất đi năng lực phòng thủ cho sau này, tạo ra thêm nguy cơ mất chủ quyền, bao nhiêu người hy sinh, và sẽ còn nhiều mất mát khác, kinh tế bị ảnh hưởng xấu, đời sống người dân nhất là ngư dân sẽ bị ảnh hưởng to lớn. Chính những lợi ích dân tộc đó, những lợi ích quốc gia đó của đất nước, mà chúng ta cố gắng không để bất kỳ cái gì biến thành (hoặc có thể để cho Trung Quốc sử dụng) một cuộc leo thang mâu thuẫn, xung đột từng bước.

Năm 1992 Việt Nam khó khăn lắm mới đấu tranh thuyết phục Trung Quốc ký vào hiệp nghị gác lại quá khứ và không tuyên truyền chống nhau, để hoàn toàn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, xây dựng không khí hòa bình, xua tan không khí chiến tranh lạnh có thể bùng nổ thành chiến tranh nóng bất cứ lúc nào giữa 2 nước. Và lâu nay Trung Quốc về cơ bản vẫn ngăn chặn những thông tin về cuộc chiến năm 1979 và hải chiến TS. Bây giờ khi xảy ra cái gì, dù là chuyện nhỏ thôi, chúng nó vin vào đó bảo Việt Nam vi phạm hiệp định rồi bật đèn xanh thả lỏng cho giới trẻ, blogger Trung Quốc, hoặc chủ động cho truyền thông chính thống tuyên truyền bôi nhọ Việt Nam, xúc phạm những anh hùng liệt sĩ Việt Nam, xuyên tạc cuộc chiến 1979 và Hải chiến TS, Vòng tròn bất tử, Gạc Ma … thì có phải là sẽ leo thang xung đột, và xung đột kéo theo xung đột, xung đột này mở ra xung đột kia hay không?

Và Việt Nam có thắng nổi một cuộc chiến tranh thông tin với Trung Quốc hay không? Thông tấn xã Việt Nam là gì so với Tân Hoa xã, CCTV có chi nhánh khắp thế giới? Cộng đồng mạng Việt Nam tỷ lệ so sánh với cộng đồng mạng Trung Quốc thế nào, rồi sự khổng lồ áp đảo này sẽ tác động tới quốc tế thế nào?

Ông Bạc Hy Lai thuộc phe tả khuynh, chống Tây bị phe hữu khuynh, thân Tây Ôn Gia Bảo, Tập Cận Bình dùng con bài Vương Lập Quân để làm cái cớ cách chức chính là 1 dấu hiệu không hay cho Việt Nam. Vì lâu nay phe đậm chất ý thức hệ như Bạc Hy Lai ở Trùng Khánh luôn có những xu hướng thân Việt Nam và chống Tây, chống tư bản hơn, vì lý do ý thức hệ.

Phe thân Tây thì chủ trương “viễn giao cận công” (hòa xa, chống gần). Đó là vì sao ông tổ của Cải cách Trung Quốc và thân Mỹ là Đặng Tiểu Bình cũng chính là tên đầu sỏ xâm lược Việt Nam trong năm 1979 trong khi phe trung thành với truyền thống, đậm chất ý thức hệ như Diệp Kiếm Anh, Hoa Quốc Phong đều phản đối.

Và còn bao nhiêu thế lực Mỹ – Tây, phản động đang rình rập tìm cách kích động chiến tranh giữa 2 nước từ nhiều động cơ, động lực khác nhau. Đục nước béo cò. Thừa nước đục thả câu.

Không nên thấy biển lặng sóng yên rồi mơ mộng tình hình vẫn đang ổn lắm, tốt lắm, thật ra chiến sự có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Mà một khi xảy ra thì Việt Nam chắc chắn sẽ mất thêm chủ quyền và nhiều mất mát khác về vũ khí, năng lực phòng thủ, thực lực tổng thể, kinh tế, sinh mạng con người v.v.

Do địa lý gần gũi thuận tiện, Trung Quốc có quan hệ ràng buộc kinh tế rất lớn với Việt Nam, là 1 thị trường xuất khẩu khổng lồ của Việt Nam, nhất là lương thực, hiện Trung Quốc đang là thị trường rộng lớn nhất và thuận tiện nhất cho người Việt Nam trong khu vực. Trong đó, Trung Quốc hiện đang nổi lên là một thị trường nhập khẩu gạo ngày càng quan trọng của Việt Nam.

Trong vòng hơn hai tháng qua chỉ riêng Trung Quốc đã nhập khẩu từ Việt Nam 500.000 tấn gạo. Dự báo trong năm nay, Trung Quốc có thể nhập khẩu từ Việt Nam ít nhất là 1 triệu tấn gạo. Nếu xảy ra chiến tranh, Trung Quốc sẽ học Mỹ ban lệnh cấm vận như thời gian 1979-1992, bao nhiêu nông dân Việt Nam sẽ phải chật vật. Năm 1992, Việt Nam đã rất khó khăn để phá thế cấm vận của Mỹ – Trung.

Tức là bên cạnh việc mất thêm chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải, máu đổ, chết chóc, đời sống dân chúng cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, khó khăn chồng chất thêm khó khăn, khủng hoảng tài chính quốc tế vừa đẩy đi phần nào sẽ trở lại. Chứ không phải chỉ có đánh nhau đổ máu trên đất liền, trong thành phố thì mới đưa đến đổ vỡ kinh tế.

Việt Nam có hèn nhát không, giới lãnh đạo Việt Nam có hèn nhát không ? Muốn biết có hèn không thì cứ nhìn thẳng vào thực tế về những vấn đề chính: Từ khi Việt Nam giành lại được độc lập từ năm 1945 tới nay, bất kỳ bọn giặc nào, từ đâu, kéo tới xâm lược ,là ta đếu đánh chúng ra ngoài, hết giặc này đến giặc khác, trong đó có cả Trung Quốc. Còn khi chúng chưa kéo tới đánh thì ta luôn tuyên bố khẳng định chủ quyền và tuyên bố công khai, chính thức phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền hoặc hành xử chủ quyền trên những vùng tạm chiếm. Và liên tục tăng cường hiện đại hóa quốc phòng, chú trọng vào hải quân, không quân, mua sắm mới, sản xuất mới.

Việt nam tăng cường hiện đại hóa hải quân

Chúng ta đánh Trung Quốc khi chúng xâm lược, cầm súng bắn vào Trung Quốc thì sao gọi là hèn nhát? Có hành động nào dũng cảm hơn thế?

Chúng ta liên tục và thường xuyên hành xử chủ quyền, tổ chức bầu cử, khai thác tài nguyên trên những vùng Trung Quốc tuyên bố thì sao gọi là sợ Trung Quốc?

Chúng ta liên tục và thường xuyên phản đối cấp quốc gia và quốc tế đối với những tuyên bố của Trung Quốc và những hành động hành xử chủ quyền và hợp tác khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp, thì sao gọi là hèn nhát?

Chúng ta liên tục, thường xuyên công khai và chính thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc tuyên bố. Bác bỏ và phủ định những tuyên bố chính thức của Trung Quốc, sao có thể gọi là hèn nhát?

Chúng ta liên tục nâng cấp vũ khí, hiện đại hóa hải quân, không quân, mua sắm mới, sản xuất mới, trong khi đang có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc, sao gọi là hèn nhát?

Chúng ta nhiều lần tập trận bắn đạn thật, phóng tên lửa thật ở Trường Sa, trên Biển Đông, ngay trên vùng tranh chấp, sao lại gọi là hèn nhát?

Rõ ràng Việt Nam công khai và chính thức, giữa ban ngày ban mặt quang minh chính đại làm những hành động trực tiếp như trên, trong khi Trung Quốc và cả thế giới biết Việt Nam đang có tranh chấp, bất đồng về biển đảo, lãnh hải, lãnh thổ với Trung Quốc, làm sao có thể gọi là hèn được?

Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết, lên trên cả mong muốn hòa bình và kinh tế. Nếu Việt Nam đặt hòa bình cao hơn thì đã không có những hành động trên, mà mỗi hành động đều như tát nước vào các tuyên bố và hành động của Trung Quốc, trái ngược và đối nghịch, đối chọi chan chát với những lập trường, quan điểm, quyền lợi của Trung Quốc, mỗi hành động này đều có thể tạo ra sự leo thang thành xung đột vũ trang và chiến tranh trên biển. Việt Nam ý thức rõ điều đó, nhưng vẫn làm, vì nó là chủ quyền, Việt Nam đặt chủ quyền lên trên hòa bình.

Nếu Việt Nam đặt kinh tế lên trên chủ quyền thì cũng như đã nói, đã không tốn hàng tỷ đô la mua nhiều vũ khí tối tân, đã không dám làm những cái gì có thể gây ra sự leo thang mâu thuẫn đưa tới xung đột quân sự, gây tác động tiêu cực tới nền kinh tế.

Tất cả những gì liên quan tới chủ quyền, lãnh thổ thì Việt Nam đều đã làm những gì có thể làm, những gì trong khả năng thực tế mà thế và lực Việt Nam hiện nay có thể làm. Bất kể nó trái ngược với lợi ích kinh tế hay nguyện vọng hòa bình ổn định của Việt Nam trong khu vực. Bất kể nó đi ngược lại với những tuyên bố, khẳng định, quan điểm, lập luận, và lợi ích của Trung Quốc.

Nhưng những gì không liên quan tới chủ quyền, bất cứ cái gì khác mà không liên quan đến chủ quyền thì chúng ta đều có thể hy sinh, để bảo vệ chủ quyền và bảo vệ hòa bình, tránh chiến tranh, như những lý do đã phân tích ở trên.

Và bảo vệ hòa bình trong trường hợp này cũng chính là bảo vệ chủ quyền, vì khi có chiến tranh thì Việt Nam sẽ mất thêm lãnh thổ, lãnh hải so với tương quan lực lượng quân sự giữa hai bên lúc này. Và sau chiến tranh nguy cơ bị mất thêm, mất tiếp chủ quyền sẽ còn dài dài vì lúc đó Việt Nam phải xây dựng lại hệ thống quốc phòng gần như từ đầu, đã cạn vốn.

Cho nên, tất cả những cái gì mà một số “còm sĩ”, “phán sĩ” bảo rằng tại sao không dám cái này, tại sao phải nín cái kia, tại sao phải nhịn cái nọ, tại sao phải bảo mật cái này, phải không công bố cái kia v.v. Tất cả những hành động đó không phải là xuất phát từ một tinh thần hèn nhát, mà là xuất phát từ một nhận thức rõ ràng về lợi ích quốc gia dân tộc, về yếu tố lợi – hại của vấn đề, xuất phát từ nhiều lý do khách quan nằm trong mục đích duy nhất đó là lợi ích dân tộc và sự mong muốn bảo vệ chủ quyền và hòa bình ổn định trong nước và khu vực. Đó là những cái chính, những cái cao nhất và quan trọng nhất.

Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm, và cái lợi tổng thể của cái chung, của dân tộc, đất nước. Và chủ quyền và sự hòa bình chính là cái lợi lớn đó.

Lãnh đạo có tài và có tâm họ đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, cái lợi ích chung đó. Họ đặt tình cảm vào cái chung, cái lớn, toàn dân, toàn quốc, nặng hơn cái tình cảm cá nhân với 1 người hay 1 nhóm, cái riêng tư, cục bộ. Đặt nặng cái lâu dài hơn cái nhất thời. Lý trí làm chủ cảm tính.

Họ cũng căm tức như chúng ta, nhưng họ có trách nhiệm khác chúng ta, họ có trách nhiệm gánh vác to lớn, họ không có quyền bị nô lệ cảm xúc, bị cảm tính điều khiển hành động, hành động cốt miễn sao hả dạ, hả giận, hả hê, thỏa mãn, bất chấp tất cả, rồi sau đó thế nào họ mặc kệ, không chịu trách nhiệm. Nếu vậy thì đó mới là một chính phủ vô trách nhiệm. Chiến tranh đổ máu, mất thêm chủ quyền lãnh hải lãnh thổ, thì ai chịu trách nhiệm? Chính họ chứ còn ai!

Cứ “ôn cố tri tân” thì chúng ta sẽ nhìn ra được rất nhiều điều. Lê Lợi sau khi giành được độc lập, lên ngôi vua, không vinh danh tưởng niệm những người lính chém chết Liễu Thăng (tướng Minh chết trận ở Đại Việt) mà lại còn đúc tượng vàng Liễu Thăng bằng tiền thuế của dân để cống cho triều Minh mỗi khi đi sứ (lệ cống người vàng này đến năm 1718 mới hết), xưng thần, tiến cống, xin sắc phong, chấp nhận làm 1 An Nam quốc vương, thần tử trên danh nghĩa, không có căn cước quốc gia chính thức, chấp nhận địa vị phiên thuộc đối với nhà Minh.

Trong thời kỳ chống Trung Quốc (1979-1992), năm 1979 quân ta đánh nhau ác liệt với quân Trung Quốc tại miền Bắc, gây cho chúng tổn thất nặng nề và đánh lui chúng về nước. Nhưng trong thời gian sau đó tới năm 1992 chúng ta vẫn chống Trung Quốc công khai, coi là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”, nhưng cũng không có những tưởng niệm, vinh danh xứng tầm hay nhắc lại, phổ biến thông tin gì nhiều về cuộc chiến này trong thời gian đó. Nhiều thông tin về những trận đánh nhỏ sau đó để giành lại từng tấc đất của Tổ quốc, ví dụ trận đánh Lão Sơn, đều được bảo mật ngay trong thời kỳ chống Trung Quốc đó.

Năm 1988, sau hải chiến Trường Sa, đài báo Việt Nam năm đó cũng không nhắc nhiều. Như vậy có phải là hèn? Ngay cả đánh mà ta còn dám đánh thì sao có thể gọi là hèn? Đánh còn dám đánh, cầm súng bắn thẳng vào lính Tàu mà còn dám thì sao không dám nói, không dám nhắc? Đó, vấn đề là ở chỗ đó, đó không phải là hèn, mà đó là vì chúng ta không muốn leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến quy mô lớn, chúng ta cần ổn định chính trị xã hội để xây dựng và bảo vệ nước nhà.

Trong tất cả những hành động đó, có thể thấy rõ ràng là: Xưa nay Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết, vì chủ quyền thì khi cần đánh chúng ta vẫn phải đánh, dù những vùng đất mà Trung Quốc vẫn còn cố đóng giữ sau năm 1979 không có bao nhiêu giá trị địa lý, đất đai, kinh tế, quân sự, nhưng vì nó là đất tổ tiên, nó là chủ quyền, cho nên ta vẫn đánh để giành lại.

Ta không hy sinh chủ quyền chỉ vì muốn hòa bình. Ta không dùng chủ quyền để đánh đổi hòa bình. Nên ta đã đồng thời vừa đánh để giành lại chủ quyền, vừa bảo mật thông tin để tránh biến nó thành 1 làn sóng phẫn nộ, tạo điều kiện cho Mỹ và phản động khoét sâu và kích động leo thang lên thành 1 cuộc chiến quy mô.

Những năm tháng chống Trung Quốc trong thời gian 1979-1992 đó đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán trước sau như 1 về đường lối chủ trương của Đảng. Đó là 1. Chủ quyền, 2. Hòa bình. Chúng ta vừa đánh để giành chủ quyền vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ thế lực thứ 3 nào lợi dụng, khoét sâu, kích động để leo thang cuộc chiến, cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn.

Trong những ngày cuối tháng 2 trong cuộc chiến chống Trung Quốc năm 1979, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn dám đánh sâu vào lãnh thổ Trung Quốc, đánh thẳng vào hai thị trấn Ninh Minh thuộc tỉnh Quảng Tây và Malipo thuộc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Đó là lần thứ 2 trong lịch sử Việt Nam mà một quân đội Việt Nam đánh vào lãnh thổ Trung Quốc, lần thứ nhất là cuộc “tấn công để phòng thủ” của Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đánh vào Trung Quốc là để tiêu diệt kho hậu cần mà giặc Tống chuẩn bị để tiến đánh Đại Việt. Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh vào Trung Quốc là để trả đũa và răn đe. Sự việc này nhiều tài liệu quốc tế đã ghi nhận, nhưng Việt Nam lại không tuyên truyền nhiều về nó vì những phức tạp ngoại giao và chính trị, nhưng ngay cả việc đánh vào đất Tàu mà còn dám thì chúng ta nên tự hiểu là Việt Nam có hèn hay không.

Ngay sau năm 1975 thì QĐNDViệt Nam và Khmer Đỏ đã giao chiến ở biên giới Tây Nam. Quân ta đã từng đánh sâu vào lãnh thổ của chúng để răn đe. Nhưng có nhiều thông tin lúc đó ta cũng đã tạm bảo mật. Không lẽ vậy có nghĩa là ta hèn trước Pol Pot? Cái gì cũng có lý do của nó. Nhưng sự thật cho thấy là ngay cả việc đánh vào đất địch mà ta còn dám, lật đổ kẻ thù ta còn dám, thì chắc chắn không phải là hèn.

Ngày nay cũng vậy, một mặt chúng ta tích cực mua sắm và sản xuất vũ khí, hiện đại hóa hải quân, không quân, liên tục và thường xuyên tuyên bố phản đối những hành động của Trung Quốc và khẳng định chủ quyền của Việt Nam, để giữ cho những vùng tạm chiếm vẫn là “vùng tranh chấp” theo pháp lý quốc tế (Vì chủ quyền). Mặt khác chúng ta cố gắng duy trì hiện trạng, giữ gìn hòa bình, không để bất cứ sự kiện gì có thể đưa đến leo thang, có thể liên kết với các sự kiện khác trở thành leo thang xung đột rồi bùng nổ chiến tranh (Vì hòa bình).

Và bảo vệ hòa bình trong thời điểm hiện nay cũng chính là bảo vệ chủ quyền (vì tương quan hiện nay mà đánh thì sẽ mất thêm). Cho thấy sự nhất quán của Việt Nam từ trước tới nay.

Đảng và Nhà nước Việt Nam vì lợi ích đất nước, vì chủ quyền và hòa bình, quyết tâm nhất quán trước sau như 1, đó là điều chắc chắn. Giặc kéo tới xâm lược thì ta sẽ giáng trả để trực tiếp bảo vệ chủ quyền đất nước. Giặc chưa kéo tới xâm lược thì ta mua sắm, sản xuất mới, hiện đại hóa quân đội, tập trận để răn đe giặc và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước.

Và thường xuyên tuyên bố chủ quyền để địch không thể hợp thức hóa, hợp pháp hóa, chính danh hóa, biến vùng tranh chấp thành vùng sở hữu của chúng. Và đồng thời ngăn ngừa những mầm mống có thể gây leo thang xung đột mà không liên quan đến chủ quyền, nhằm bảo vệ hòa bình. Ví dụ, mọi sự tuyên bố chủ quyền có giá trị với luật pháp quốc tế hay các hành động hành xử chủ quyền, tập trận, nâng cấp, mua sắm, chế tạo vũ khí, hiện đại hóa hải quân và không quân tuy rằng sẽ gây leo thang xung đột nhưng nó vẫn cần làm vì nó liên quan trực tiếp với chủ quyền, liên quan tới mục tiêu bảo vệ chủ quyền, mà ta đặt chủ quyền ưu tiên lên trên mong muốn hòa bình.

Nhưng đồng thời, những vấn đề không liên quan tới chủ quyền thì ta có thể hy sinh, tạm gác lại, tạm khép lại v.v. để giữ gìn mục tiêu thứ hai, đó là hòa bình và ổn định, và cũng là để bảo vệ mục tiêu thứ nhất, đó là chủ quyền và lãnh thổ – lãnh hải, vì một khi chiến tranh xảy ra, với tương quan lực lượng hai bên, Việt Nam sẽ mất thêm chủ quyền và sau đó sẽ tiếp tục đối phó với nguy cơ mất thêm chủ quyền, sẽ còn mất nhiều thêm và dễ dàng mất thêm chủ quyền dài dài, còn phải nhượng bộ nhiều hơn, vì sau chiến tranh thì vũ khí của chúng ta sẽ gần như sạch vốn, hay ít nhất là yếu kém đi rất nhiều, và công cuộc hiện đại hóa sẽ phải xây lại từ đầu. Trong quan hệ quốc tế cái tư thế và thực lực yếu – mạnh là yếu tố quyết định, xưa nay đều là vậy, thế yếu với thế mạnh khác nhau xa lắm, không thể duy ý chí cái gì cũng coi là như nhau, ngang nhau, cái gì cũng có thể làm được trong một thế yếu, lực yếu, không thể ngây thơ coi mạnh – yếu như nhau và bên yếu có thể hành xử như bên mạnh.

Nhìn lại thời kỳ chống Trung Quốc, nhiều người chê trách ông Lê Duẩn quá cứng rắn nên mới để cho chiến tranh xảy ra, chứ nếu là Bác Hồ thì đã ngoại giao mềm dẻo hơn, kiềm chế hơn, đã giữ được không để leo thang xung đột thành chiến tranh. Ngày nay các lãnh đạo đã rút kinh nghiệm thời Lê Duẩn nên đang làm khác đi, thì cũng lại bị chê trách.

Nếu nhìn lại lịch sử, ôn cố tri tân, thì chúng ta thấy Việt Nam nhượng bộ Trung Quốc không phải vì Việt Nam và Trung Quốc cùng ý thức hệ, cùng phe, mà vấn đề này nằm trong một sách lược chung, một chiến lược đối Trung Quốc xuyên suốt từ lịch sử trung đại cho đến nay. Đó là sách lược mềm dẻo, nhẫn nhịn để “cận giao” (hòa gần), có thể nhượng bộ nhiều thứ, xin sắc phong, chấp nhận làm một “thần tử” trên danh nghĩa, thậm chí dùng cả tiền thuế của dân để triều cống v.v. miễn sao giữ được chủ quyền, độc lập và giữ được thái bình, yên ổn. Thời phong kiến nào cũng vậy, kể cả những triều đại, nhà nước anh hùng nhất trong lịch sử Việt Nam.

Trong Thời đại Hồ Chí Minh những ngày đầu độc lập, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cũng đã nhượng bộ Tàu Tưởng rất nhiều vấn đề (Tàu Tưởng với ta khác ý thức hệ). Cụ thể:

- Khi “Hoa quân nhập Việt”, đội quân vô kỷ luật của Trung Hoa Quốc dân đảng cướp phá bà con, cướp gà cướp vịt để ăn nhậu, nhũng nhiễu lương dân. Chính phủ ta lúc đó vẫn ra lệnh cho các lực lượng Dân quân – Tự vệ, du kích địa phương phải đề cao cảnh giác, kiểm soát chúng (với danh nghĩa “bảo vệ” cho chúng), nhưng không được nổ súng trước. Phải kỷ luật tối đa.

- Để đối phó với yêu sách và sức ép của Trung Hoa Dân Quốc đòi giải tán quân đội chính quy của Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh chấp nhận tạm thời nhượng bộ, tháng 11 năm 1945, Việt Nam Giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, một trong những sách lược chính trị tạm thời làm nhẹ đi tính chất quốc gia, tính chất chính thức của quân đội, tạm thỏa mãn sự đòi hỏi của Tàu Tưởng. Ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán (thực tế là rút vào hoạt động bí mật). Sau khi Tàu Tưởng về nước thì Đảng mới xuất hiện trở lại và Vệ quốc đoàn mới đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, rồi Quân đội Nhân dân Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đi một nước cờ chính trị táo bạo, ký tạm ước và sau đó là hiệp định Sơ Bộ với Pháp, cho phép một bộ phận của quân đội Pháp ra đóng ở miền Bắc để ép Tàu Tưởng rút về nước. Đúng như dự kiến, Tàu Tưởng trước sức ép của quân đội cộng sản Trung Quốc trong nước, không muốn lôi thôi thêm nữa với 2 thế lực mạnh là Pháp và Việt Minh. Đứng trước 2 thế lực mạnh, họ không muốn phiêu lưu thêm nữa ở miền Bắc Việt Nam, đành chấp thuận rút quân. Bác Hồ đã thành công lợi dụng Pháp đẩy Tàu về nước.

Trong lúc quân Tàu rút về, chính phủ Việt Nam đã ra quân lệnh phải “bảo vệ” cho quân Tàu Tưởng đi về an toàn, cấm không được gây hại tới họ, ai vi lệnh sẽ xử theo quân pháp. Trong thời gian đó – trước tình trạng thiếu thốn vũ khí – có nhiều chiến sĩ Vệ quốc đoàn vì tiếc số vũ khí của Nhật bị Tàu đem về gần hết, nên muốn thừa cơ phục kích cướp lấy, trước khi đi nhiều người đã trốn cả cấp chỉ huy, tự ý hành động, có người bị phát hiện và ngăn cấm thì quyết tâm nói nếu bị lộ thì sẽ chấp nhận tử hình. Kết quả nhiều người giả cướp, giả quân phỉ và cướp vũ khí trót lọt. Nhưng cũng có không ít người thất bại, có những trận thua phải chạy về, những chiến sĩ thương vong bị địch lục áo tìm thấy được giấy tờ tùy thân, chúng kéo quân tìm tới các căn cứ của Vệ quốc đoàn vặn vẹo, hạch sách, đòi lại công đạo v.v.

Vì luật pháp, vì chính trị, vì ngoại giao, mà Nhà nước non trẻ đã phải “quân pháp bất vị thân”, “đại nghĩa diệt thân”, giam những chiến sĩ đó lại và có nhiều trường hợp đành phải tử hình. Nghe thì thấy ác, thấy vô cảm, nhưng là lãnh đạo, là người làm chính trị chân chính, thì đôi khi phải gạt bỏ tình riêng để mà vì cái lợi chung, đặt đại cuộc lên trên hết, lấy đại cuộc làm đầu.

Nói chung, tất cả những sự nhượng bộ từ lịch sử phong kiến tới nay đều vì đại cuộc, vì lợi ích lớn của dân tộc, vì những sách lược chính trị, chiến lược đối ngoại tạm thời. Thời đó chính phủ Hồ Chí Minh cũng bị những kẻ phản động kích động, nâng quan điểm lên rồi mắng nhiếc, chửi rủa là “hèn nhát”, “nhục quốc thể”, “nhục nhã”, “mất mặt”, “mất danh dự” v.v. Tay sai của Pháp thì chửi tại sao ta nhường nhịn “kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa”. Tay sai của Tàu Tưởng, Nhật thì lại chửi việc ta ký hiệp định Sơ Bộ, họ xuyên tạc rằng đó là “hiệp ước bán nước”, “Hồ Chí Minh bán nước cho Pháp” v.v. Nhưng những chiến công hiển hách và những kết quả độc lập – thống nhất – hòa bình sau đó đã cho câu trả lời, đã cho thấy những quyết sách đó là đúng.

Ngẫm nghĩ lại những sự việc trên và thời điểm lịch sử lúc đó, nên tự hỏi, vì sao chủ tịch Hồ Chí Minh không ngại một cuộc chiến với thực dân Pháp bằng e ngại một cuộc chiến với Tàu Tưởng? Trong khi quân Pháp thiện chiến, chuyên nghiệp, vũ khí hiện đại hơn quân ô hợp với những vũ khí lạc hậu của Tàu Tưởng rất nhiều. Đó là vì Bác Hồ hiểu người phương Tây vốn thực dụng và Pháp là bọn ở xa, đánh xong rồi thôi, thua xong rồi thôi. Còn một khi có chiến cuộc với người Trung Quốc, gã hàng xóm khổng lồ ở sát bên cạnh, thì sẽ lắm gay go về lâu dài. Xin lưu ý, năm 1946 Tàu Tưởng vẫn còn rất mạnh ở Trung Quốc và lúc đó vẫn chưa thể biết phe Tưởng hay phe Mao sẽ thắng.

Người làm chính trị luôn lo đến cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái dân tộc mà làm hỏng đại cuộc.

Vì những lẽ lợi – hại đó, vẫn sẽ có những hạn chế phần nào trong báo chí và dư luận để phục vụ cho sách lược đối ngoại chung đối với Trung Quốc, giữ cho tất cả trong vòng kiểm soát, không leo thang căng thẳng, dần đưa tới mâu thuẫn, từng bước đưa đến xung đột quân sự và chiến tranh quy mô. Đồng thời không để thế lực thứ ba nào lợi dụng tình hình căng thẳng giữa hai bên để trục lợi.

Còn đối với những kẻ phản động, chống cộng ở hải ngoại, từng có “thành tích” bán nước, theo giặc 3 đời vẫn luôn miệng tuyên truyền dối trá nâng quan điểm về những cái gọi là “đại họa mất nước” (?), “Việt Cộng bán nước”, “Cộng sản Việt Nam dâng đất bán biển” v.v. thì họ là những kẻ thù hận điên cuồng, u mê mù quáng, không dám chấp nhận sự thật. Chúng ta không quan tâm và không hy vọng gì vào những phần tử này. Khi Việt Nam giữ quan hệ bình thường với Trung Quốc thì họ vẫn sẽ còn tiếp tục bám vào đó, sống ký sinh lên trên đó và tiếp tục chửi bới.

Nhưng nếu Việt Nam chuyển sang chống Trung Quốc như trong giai đoạn 1979-1992 thì cũng không có khả năng nào họ theo Việt Nam chống Trung Quốc, mà trái lại họ sẽ càng lợi dụng phá thêm và mong muốn Trung Quốc chiến thắng, như họ đã từng mong muốn “Trung Cộng đánh thẳng vào Hà Nội giết sạch Việt Cộng” năm 1979. Như họ nhân lúc toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang chống xâm lược mà kích động, tổ chức phá trại cải tạo, vào rừng lập “chiến khu” chống Việt Cộng, khủng bố đặt bom khắp các đô thị miền Nam, thời ấy họ lợi dụng thời cơ khi giặc Tàu đang xâm lược và đánh nhau với Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Bắc thì ở miền Nam thỉnh thoảng vẫn có những tiếng nổ do bọn phản động – khủng bố phá hoại. Bọn Fulro và bọn khủng bố tiền thân của Việt Tân nhân cơ hội chiến tranh đó, đã “đục nước béo cò”, “thừa nước đục thả câu” mà thừa cơ đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, ma túy, súng đạn vào khủng bố trong nước. Những kinh nghiệm từ lịch sử vẫn còn rành rành ra đó.

Đây là bọn phản quốc và trên thực tế đã chống dân tộc, chống nhân dân, chống đất nước, chống Tổ quốc nhiều đời, nhiều lần trong lịch sử hiện đại, chứ không chỉ có chống Đảng Cộng sản, chống Hồ Chí Minh, chống CNXH, chống CNCS. Vì vậy chúng ta nên tin vào những người có uy tín chống xâm lược, không nên hùa theo những kẻ từng ô danh theo giặc xâm lược, phản bội Tổ quốc.

Họ trung thành với nước Mỹ chứ không phải trung thành với nước Việt. Họ yêu bản thân chứ không yêu nước. Mục đích tối hậu của họ là lật đổ Nhà nước Việt Nam để phục hận sau khi những lợi ích gắn liền với giặc xâm lược của họ bị mất sạch sau khi Việt Nam thắng Mỹ. Họ muốn trở về rửa hận, lấy lại những gì đã mất, để tranh quyền giành ghế, tranh giành quyền lực để được làm ông nọ bà kia. Mối quan hệ phức tạp Việt – Trung chính là một trong những chiêu bài để họ nắm lấy, khai thác, và lợi dụng để thực hiện mục đích tối hậu đó, vì lợi ích riêng của chính bản thân họ, bất chấp lợi ích chung của đất nước và dân tộc.

Họ hô hào kích động chiến tranh vì nếu xảy ra chiến tranh thì chỉ có máu đồng bào trong nước đổ, đất nước Việt Nam điêu tàn, kinh tế Việt Nam thảm hại, cuộc sống người dân điêu đứng, chứ họ ở bên Mỹ, ở hải ngoại, cách Việt Nam nửa vòng trái đất, họ không chịu trách nhiệm và không bị một sự ảnh hưởng nào. Đôi khi vì cái Tôi của mình, một số họ cũng tự thôi miên và tưởng rằng ta đây “yêu nước” thật, không dám nhìn thẳng vào sự thật là họ đang đi ngược lại với quyền lợi dân tộc và đất nước, làm trái lại với những nguyện vọng và lợi ích của nhân dân Việt Nam, họ dối mình gạt người và lừa gạt cả con cháu, tuy nhiên nhiều người trẻ thế hệ 3, 4 ở hải ngoại sau khi tiếp cận với những thông tin trong nước và các thông tin khách quan quốc tế, cũng đã dần dà hiểu ra vấn đề.

oOo

Việt Nam là đối tượng dễ xảy ra chiến tranh với Trung Quốc nhất không phải vì Việt Nam không được Mỹ chống lưng, mà chủ yếu là vì địa lý gần gũi, thuận lợi và tương quan thực lực quốc phòng giữa hai bên. Lịch sử đã cho thấy dù Trung Quốc đang quan hệ với Mỹ như thế nào thì khi cần đánh, thấy đánh được thì họ vẫn đánh, không hề sợ Mỹ. Ví dụ chiến tranh Triều Tiên và những nỗ lực thống nhất Đài Loan trong những năm cuối 1940, đầu 1950. Hay như năm 1974, Mỹ ở ngay trong khu vực, Hạm đội 7 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đang lù lù ngay đó nhưng họ vẫn thỏa hiệp được với Mỹ rồi tiến vào chiếm đóng Hoàng Sa.

Hiện nay, Trung Quốc chưa đánh Đài Loan không phải vì Đài có Mỹ, mà là vì sức mạnh quân sự và khả năng tự vệ của Đài Loan. Họ chưa đánh Philippines không phải vì Phi có Mỹ, mà vì Phi ở xa, Malaysia không có ai chống lưng và tiềm lực quốc phòng không mạnh, nhưng họ cũng chưa đánh vì ở xa, địa lý không thuận lợi, chưa thích hợp. Trung Quốc phải vượt qua chướng ngại vật Việt Nam rồi mới có thể mở đường ra, dùng các lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam làm căn cứ, làm cơ sở, làm bàn đạp, bành trướng xuống Đông Nam Á. Chưa vượt qua nổi Việt Nam thì chưa thể bành trướng xuống phương Nam.

Cũng vậy, Trung Quốc chưa đánh Hàn Quốc, Nhật Bản không phải vì Hàn – Nhật có chiếc dù Mỹ, mà vì thực lực quốc phòng của 2 nước này. Nga, Ấn Độ không có Mỹ chống lưng nhưng chưa bị Trung Quốc đánh là vì họ cũng có tiềm lực quốc phòng, năng lực tự vệ mạnh mẽ, sức mạnh răn đe đáng kể.

Tất cả những quốc gia trên đều đang có tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, biên giới với Trung Quốc nhưng chưa bị tấn công đều không phải nhờ chiếc dù của ngoại bang nào, mà đều vì chính sức mạnh quốc phòng của họ hoặc địa lý của họ chưa thích hợp cho Trung Quốc khởi binh. Việc được các ông lớn, nhất là Mỹ chống lưng chỉ làm chùn bước Trung Quốc phần nào, nhưng như lịch sử đã cho thấy, khi cần đánh thì họ vẫn sẽ đánh, từ năm 1950 một Trung Quốc lạc hậu đã không sợ Mỹ, dám đem 100 vạn quân vào bán đảo Triều Tiêu đánh nhau trực tiếp với Mỹ, thì một Trung Quốc hiện đại hóa, kỹ thuật cao, công nghệ tối tân ngày nay cũng sẽ không sợ Mỹ.

Theo thạc sĩ Lê Hồng Hiệp, giảng viên của Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thì Việt Nam nên tránh Mỹ và các đại siêu cường, mà nên thiết lập quan hệ an ninh – quốc phòng chiến lược với các thế lực bậc trung. Đây là điều hợp lý, thường trong quan hệ quốc tế và trong quan hệ con người nói chung, trong bất kỳ mối quan hệ nào, thường thế và lực giữa hai bên phải không quá chênh lệch thì mối quan hệ mới công bằng và dễ có sự chân tình với nhau. Một bên quá mạnh và một bên quá yếu thì khó thể có mối quan hệ công bình, bình đẳng, đến một lúc nào đó nước nhược tiểu kia sẽ trở thành vật hy sinh của “ông bạn lớn”, bị “đồng minh” bán rẻ, bán đứng, đâm sau lưng, các “ông lớn” sẽ gạt mình qua một bên để thỏa thuận sau lưng, thỏa hiệp trên lưng với nhau rồi sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình vì lợi ích của họ.

Tuy nhiên, cái gì cũng có thể có ngoại lệ, căn cứ vào logic thông thường hiện nay, cường quốc quân sự duy nhất trên thế giới ngày nay mà Việt Nam có thể xem xét thiết lập một mối quan hệ đồng minh chiến lược chính là Nga. Hai nước có cái tình và có sự ít nhiều tin tưởng nhau (ít nhất là tin rằng 2 bên không làm hại nhau, không có nhu cầu hại nhau) từ thời Liên Xô. Và Việt Nam lâu nay vẫn là bạn hàng, đối tác tin cậy của Liên bang Nga. Không có nhiều quyền lợi, lợi ích mâu thuẫn, trái ngược nhau. Có sự thuận lợi đặc thù về địa lý, Nga – Việt không ở gần nhau và không có mâu thuẫn về lãnh thổ, mà lại có một mối quan hệ chiến lược từ vị trí địa lý, khi 2 nước cùng như một gọng kìm ép Trung Quốc vào giữa. Nếu Việt – Nga kiên quyết giữ mối quan hệ mang tầm chiến lược lâu dài này thì sẽ có tác dụng ngăn ngừa, kiềm chế và hạn chế phần nào những tham vọng và sự gây hấn của Trung Quốc.

Nga không muốn Trung Quốc vượt lên mình quá xa, làm lu mờ đi vai trò của Nga, gạt đi tầm ảnh hưởng và sức mạnh của Nga trong khu vực, thậm chí trở thành mối đe dọa thường trực của Nga ở phía Nam. Hiện Trung Quốc vẫn đang chiếm giữ nhiều lãnh thổ của Nga nơi biên giới.

Trung Đức

FACEBOOK COMMENTS

74 nhận xét:

  1. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có lịch sử lâu dài, có mối quan hệ đặc biệt hơn nữa lại là hai nước láng giềng của nhau nên mói quan hệ lại càng phức tạp hơn

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Lạng quạng là Tàu nó đập cho phù mỏ ra . Muốn đảng ta ăn đòn à ? Đừng có xúi đảng ăn cứt gà . Thà là làm tay sai cho Tàu mà đảng ta còn tồn tại . Chống lại chúng thì ai ủng hộ đảng ?

      Xóa
    2. Việt Nam là nước nhỏ. Trung Quốc là một trong ngũ cường quốc (thành viên thường trực tại HĐ Bảo An, ăn trên ngồi trước, không thích thì phủ quyết, không cần bầu vẫn là thành viên trong HĐ Bảo An), nói thật cái LHQ ngay từ mục đích thành lập của nó là chia sẻ quyền lực giữa các cường quốc thắng trận trong thế chiến thứ II đã là không công bằng rồi. Nó tạo nên một hệ thống các nước lớn (là thành viên thường trực), các nước còn lại trên thế giới chỉ như những quân cờ cho 5 nước lớn đó chơi thôi. Mình thấy có nhiều ý kiến chống TQ muốn gây chiến với TQ, nhưng mình thử hỏi các bạn có làm gì được TQ không. Ông cha ta mỗi lần đánh bại TQ lại phải sang TQ xin chức vương, xin làm chư hầu. Gây chiến với TQ đồng nghĩa với mất nước. Hãy nhìn vào Hoàng Sa, chúng ta mất Hoàng Sa vào năm 1974 là vì chúng ta khinh thường TQ và quá tin tưởng vào các thế lực ngoại bang giúp đỡ, mọi người đều hân hoan khi hải quân VNCH nổ súng trước,nhưng chính vì VNCH nổ súng trước nên TQ mới có cớ để chiếm Hoàng Sa. Senkaku Nhật-Trung ghìm nhau như vậy mà đâu bên nào dám nổ súng, đánh nhau thua nên mới lộ yếu điểm thì bị người ta diêt. Quá lệ thuộc vào ngoại bang cũng không phải là việc tốt. Hãy xem VNCH 1970 bị Philippin lấy mất hàng loạt đảo ở Trường Sa, tại sao VNCH không dám ngăn chặn Philippin, đơn giản Philippin là thuộc địa cũ của Mỹ, là đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại ĐNA (VNCH vì chống Cộng nên được tài trợ nhiều, nhưng chỉ đứng thứ 2), các tướng lĩnh VNCH đều dè đường nếu thua thì rút chạy sang Phi nên đâu có dám gây hấn với Phi như TQ.

      Xóa
  2. Việt Nam và Trung Quốc hai nước láng giềng, chúng ta đang công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh hơn do vậy cần tranh thủ sự ủng hộ của nhiêu nước trong đó có Trung Quốc

    Trả lờiXóa
  3. Việt Trung là mối quan hệ nhạy cảm thì không có gì khó hiêu lắm, từ ngàn đời nay cũng đã vậy rồi. Nhưng chỉ mong sao lúc nào người dân cả hai nước đều được ấm no, hạnh phúc, và mối quan hệ giữa hai nước luôn trong tầm kiểm soát.

    Trả lờiXóa
  4. Ở nơi nào trên thế giới thì quan hệ giữa các nước láng giềng cũng nhạy cảm. Chỉ cần lãnh đạo hai nước khéo léo và có thiện chí thì nhân dân hai nước sẽ được ấm no.

    Trả lờiXóa
  5. phải thừa nhận thực tế là TQ thường mạnh hơn chúng ta, dù ở thời kỳ nào. Điều đó vừa là lợi thế vừ là nguy cơ với nước ta, nhưng tôi tinh lãnh đạo nước nhà sẽ biết cách làm thế nào là tốt nhất cho đất nước.

    Trả lờiXóa
  6. nhạy cảm thì rõ rồi, mình yếu hơn cũng không phủ nhận nhưng không nên nhún nhường họ quá mức

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. đúng, nên nhún nhường bọn tàu quá

      Xóa
  7. vốn dĩ là do TQ họ đã tự mình phá vỡ cái quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và TQ

    Trả lờiXóa
  8. tôi xin khẳng định khi có xâm lược thì Việt Nam sẵn sàng đánh xâm lược và khi giặc chưa xâm lược thì Việt Nam đang tích cực bảo vệ chủ quyền

    Trả lờiXóa
  9. hy vọng quan hệ của nước ta với TQ sẽ phát triển theo chiều hướng tốt đẹp

    Trả lờiXóa
  10. TQ nên dừng những hành động làm ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ Việt Trung

    Trả lờiXóa
  11. quá nhạy cảm ấy chứ, nhất là trong thời điểm hiện nay

    Trả lờiXóa
  12. mong rằng đảng và nhà nước ta tiếp tục có những hành đông, biện pháp hữu hiệu để bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.

    Trả lờiXóa
  13. đảng nhà nước ta đã có những bước đi đúng đắn để bảo vệ chủ quyền đất nước, tôi trân trọng điều đó

    Trả lờiXóa
  14. tôi xin khẳng định khi có xâm lược thì Việt Nam sẵn sàng đánh xâm lược và khi giặc chưa xâm lược thì Việt Nam đang tích cực bảo vệ chủ quyền

    Trả lờiXóa
  15. Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ thua TQ trong mọi cuộc chiến giành chủ quyền và giờ cũng vậy.

    Trả lờiXóa
  16. Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc là mối quan hệ có từ rất lâu đời từ các triều đại phong kiến đã có mối quan hệ này. Tuy nhiên do vị trí địa lý của 2 nước đã dẫn đến các mối quan hệ này trở nên nhạy cảm và luôn luôn là vấn đề nóng của 2 bên.

    Trả lờiXóa
  17. Đối với Trung Quốc chúng ta không thể nào dùng quân sự để đối đầu với họ mà chúng ta cần phải dùng phương pháp ngoại giao để giữ vững nên hòa bình. Thế nên vấn đề ngoại giao Việt - Trung luôn là vấn đề nhạy cảm nếu ta làm không tốt sẽ dẫn đến những hậu quả to lớn.

    Trả lờiXóa
  18. Có rất nhiều nguyên nhân khiến quan hệ Việt – Trung là mối quan hệ nhạy cảm và Trung Quốc luôn là bóng ma ám ảnh cho chủ quyền Việt Nam và là mối đe dọa lớn nhất cho chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  19. Chúng ta là một nước láng giềng của Trung Quốc và có vị trí địa lý quan trọng trong khu vực, thế giới. Thế nên những âm mưu của TQ đối với nước ta cũng vì những lợi ích của bọn chúng. Tuy nhiên chúng ta vẫn phải thực hiện chính sách ngoại giao để giải quyết chứ không nên dùng vũ lực.

    Trả lờiXóa
  20. Chúng ta cần phải có những chính sách chiến lược ngoại giao sao cho hợp lý trong từng thời điểm trong từng hoàn cảnh nếu không sẽ phải chịu những hậu quả nghiêm trọng.

    Trả lờiXóa
  21. Nước ta còn nghèo quá.... nhưng được cái tuy nghèo nhưng chúng ta vẫn có bản lĩnh, có sách lược bảo vệ chủ quyền biển đảo đúng đắn

    Trả lờiXóa
  22. Chúng ta cần phải tăng cường sức mạnh quân sự thì mới đủ sức răn đe. hiện tại chúng ta có rất nhiều trang thiết bị vũ khí hiện đại, nhưng từng đó chưa đủ

    Trả lờiXóa
  23. hee các bác lãnh đạo nhà mình cũng tài tình nhỉ. thế mà từ trước đến nay mình toàn.. nghĩ xấu. đúng là dại dột quá. giờ mới biết :D

    Trả lờiXóa
  24. Người làm chính trị luôn lo đến cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững, không để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, tự ái dân tộc mà làm hỏng đại cuộc.

    Trả lờiXóa
  25. Việt Nam cần chú trọng hơn nữa trong việc trang bị, hiện đại hóa quân sự để có thể ứng phó với mọi tình huống có thể xảy ra.

    Trả lờiXóa
  26. Từ xưa đến nay mối quan hệ Việt -Trung vẫn luôn là mối quan hệ nhạy cảm.Việt Nam chúng ta cần đẩy mạnh sự phát triển sức mạnh quân sự,quan hệ ngoại giao,tiềm lực kinh tế hơn nữa thì mới có thể giữ vững được chủ quyền lãnh thổ và tiếng nói trên trường quốc tế

    Trả lờiXóa
  27. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia có nền văn hóa hết sức gần gũi. Việc Trung Quốc gây hấn với Việt Nam lỗi là do những người lãnh đạo Trung Quốc. Khi mà họ liên tục đưa ra những chính sách đối ngoại với Việt Nam hết sức vô lý, chứ người dân hai nước không hề có lỗi gì.

    Trả lờiXóa
  28. Người dân Trung Quốc cũng muốn hòa bình, nhưng bọn lãnh đạo bên phía chúng lại quá máu chiến nên mới dẫn đến tình trạng gây hấn với rất nhiều nước như thế thôi.

    Trả lờiXóa
  29. Việt Nam luôn muốn hòa bình hữu nghị hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc lại làm khó cho chúng ta, gây hấn với cả nhiều nước khác. Làm như vậy thì Trung Quốc cũng chẳng được gì mà chỉ chuốc họa vào thân thôi.

    Trả lờiXóa
  30. nước ta và trung quốc đã có hàng nghìn năm là láng riềng, tủng quốc chưa bao giờ từ bỏ giấc mộng bá chủ cả. chúng ta chỉ còn cách là đoàn kết sức mạnh toàn dân tộc thì mới có thể giữ vững chủ quyền đất nước!

    Trả lờiXóa
  31. hãy đề phòng cảnh giác với những hành động của trung quốc

    Trả lờiXóa
  32. mang tiếng ông anh nhưng mà bọn tàu bẩn tính lắm, cái vụ cửa hàng không tiếp khách việt là gần đây nhất!

    Trả lờiXóa
  33. Tuy quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có từ lâu nhưng có vẻ như đây là mối quan hệ vô cùng nhạy cảm, điều này cũng là dễ hiểu mà

    Trả lờiXóa
  34. Tuy là nước láng giềng nhưng Trung Quốc chưa khi nào từ bỏ giấc mộng bá chủ của mình cả.

    Trả lờiXóa
  35. Nỗi bất hạnh của việt nam là sống bên cạnh một nước thâm độc, hiếu chiến như trung quốc, Niềm hạnh phúc của trung quốc là sống bên cạnh một dân tộc yêu chuộng hòa bình như việt nam

    Trả lờiXóa
  36. đảng và nhà nước ta hãy vững tay chèo chèo lái con thuyền việt nam vượt qua sóng gió thời điểm này nhé

    Trả lờiXóa
  37. Mối qua hệ Việt - Trung ngày càng phức tạp. Việt nam kêu gọi và ưa chuộng hòa bình, phát triển. Nhưng có những kẻ vì lòng tham mà muốn phá bỏ đi tất cả để độc chiếm về mình

    Trả lờiXóa
  38. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có quan hệ lịch sử lâu dài hơn nữa lại là hai nước có chung đường biên giới do vậy mối quan hệ ẩn chứa nhiều điểm phức tạp

    Trả lờiXóa
  39. Mẹ cái thằng Trung Quốc, đường lưỡi bò với chả lưỡi trâu, Trung Quốc là thằng bẩn tính và thâm độc nhất, phải hết sức dè chừng thằng này

    Trả lờiXóa
  40. Mối quan hệ Việt - Trung từ bao đời nay vẫn luôn là vấn đề nhạy cảm. Trung Quốc là một nước lớn chính vì vậy chúng ta cần hết sức thông minh và khéo léo , tỉnh táo trong mối quan hệ ngoại giao này, tránh mất hòa khí nhưng cũng không chịu để họ áp bức

    Trả lờiXóa
  41. Với Trung Quốc thì các nước láng giềng cần cẩn thận hơn vì ẩn trong đó là các vấn đề nhạy cảm ngày càng xuất hiện nhiều trong quan hệ giữa các quốc gia này với TQ.

    Trả lờiXóa
  42. Cho dù là nhạy cảm nhưng đối với Việt Nam thì vẫn sẽ coi đây là mối quan hệ hữu nghị, chúng ta luôn sẵn sàng là bạn đối với các đối tác. Nhưng không vì thế mà chúng ta chùn bước.

    Trả lờiXóa
  43. Đúng vậy, mối quan hệ này là rất nhạy cảm. Phải thật khôn khéo trong ứng xử, giải quyết những xung đột với TQ. Việt Nam là một đất nước ưa chuộng hòa bình, nhưng không thể để TQ lấn lướt chúng ta được

    Trả lờiXóa
  44. Đất nước chúng ta và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có mối quan hệ hết sức nhạy cảm. Mặt khác Trung Quốc là một nước lớn, có tiềm lực cả về kinh tế và quân sự. Chúng ta là một nước nhỏ, mọi chính sách đối ngoại phải thật sự không ngoan, tinh tế trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp.

    Trả lờiXóa
  45. Mong sao Trung Quốc hãy dừng những hành vi xâm hại đến Việt Nam để mối quan hệ Việt Trung trở nên tốt đẹp

    Trả lờiXóa
  46. VN và TQ là 2 nước láng giềng, càng gần nhau càng dễ có nhiều mâu thuận,hơn thế nưa, nước lớn bao giờ cũng muốn bắt nạt nước bé,

    Trả lờiXóa
  47. Phải cắt lưỡi bò của chúng cho chúng nó ko kêu dc nữa,Mong sao Trung Quốc hãy dừng những hành vi xâm hại đến Việt Nam để mối quan hệ Việt Trung trở nên tốt đẹp

    Trả lờiXóa
  48. hàng xóm với nhau mà cứ nhòm ngó, Phải thật khôn khéo trong ứng xử, giải quyết những xung đột với TQ.

    Trả lờiXóa
  49. Quan hệ giữa ta với TQ , bề ngoài thì ko có gì, nhưng ẩn sâu là phải đè phong, mối quan hệ hết sức phức tạp

    Trả lờiXóa
  50. Địa lý gần gũi thuận lợi, do có mâu thuẫn trực tiếp chủ quyền lãnh thổ và những nguồn lợi kinh tế biển, trong đó có những nguồn dầu ở Biển Đông là những lý do mà TQ luôn muốn gây chiến với ta

    Trả lờiXóa
  51. Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết bản ghi nhớ là đối tác chiến lược của nhau. Tuy nhiên đối tác vẫn ẩn chứa đối tượng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam luôn tồn tại những phức tạp từ lịch sử cho tới hiện tại đều liên quan tới lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc

    Trả lờiXóa
  52. Cám ơn tác giả vì đã cho tôi một góc nhìn mới về vấn đề này. Rất hay.

    Trả lờiXóa
  53. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có lịch sử lâu dài, có mối quan hệ đặc biệt hơn nữa lại là hai nước láng giềng của nhau!Nhưng thế giới hiện đại dần lên, Trung Quốc đã bộc lộ ra sự nham hiểm của mình! vì vậy quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc rất nhạy cảm chỉ cần một hành động sai lầm nhỏ có thể dẫn tới đấu tranh vũ trang!

    Trả lờiXóa
  54. thật ra vấn đề này chúng ta khó có nói ra hết được nhưng có lẽ những người lãnh đạo họ có lý do của họ , liên quan đến lợi ích của đất nước chúng ta không cần thiết phải bàn nhiều về vấn đề này

    Trả lờiXóa
  55. Đảng là cuộc sống của toàn dân. Đây là khẳng định tất yếu. Hãy nghĩ xem, nếu Đảng CS ko còn dân tộc ta sẽ như thế nào đây?

    Trả lờiXóa
  56. Hiện nay các thế lực thù địch luôn muốn xóa bỏ điều 4 hiến pháp 1992, chúng ta cần phải hết sức đề phòng.

    Trả lờiXóa
  57. Đất nước ta đang trên đà phát triển dần đều. Hãy đặt niềm tin vào Đảng, tránh để các luận điệu sai trái làm lung lay niềm tin này.

    Trả lờiXóa
  58. Toàn dân, hãy cùng chung tay xây dựng đất nước giàu mạnh hơn.

    Trả lờiXóa
  59. bài viết phân tích khá sâu sắc và đầy đủ,khách quan về quan hệ "nhạy cảm" Việt - Trung

    Trả lờiXóa
  60. quan hệ Việt-Trung là mối quan hệ lâu dài với thăng trầm theo lịch sử của cả 2 nước và đây là mối quan hệ vô cùng nhạy cảm

    Trả lờiXóa
  61. Quan hệ giữa chúng ta và Trung Quốc có từ rất xa xưa nhưng nó luôn luôn là vấn đề rất nhạy cảm bởi vì đất nước chúng ta có vị trí địa lí giáp ranh với Trung Quốc.

    Trả lờiXóa
  62. Đúng là như thế tuy Trung Quốc vẫn tỏ ra quan hệ rất thân thiết với chúng ta những đằng sau lại chứa đựng rất nhiều âm mưu và thủ đoạn của chúng vì thế chúng ta cần phải thận trọng.

    Trả lờiXóa
  63. Đằng sau mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn luôn tiềm ẩn những âm mưu và những nguy cơ từ Trung Quốc đối với đất nước ta. Vì thế ta cần phải rất tỉnh táo và thận trọng trong vấn đề này.

    Trả lờiXóa
  64. Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian gần đây đang chứa đựng nhiều hiểm họa mà chúng đều đến từ các chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Hi vọng thời gian tới sẽ có nhiều chuyển biến tích cực hơn.

    Trả lờiXóa
  65. Quan hệ giữa ta và Trung Quốc hiện nay là một vấn đề nhạy cảm nếu chúng ta làm không tốt sẽ để lại những hậu quả khó lường và vô cùng to lớn.

    Trả lờiXóa
  66. Chúng ta muốn hòa bình hưu nghị cùng nhau phát triển, còn Trung Quốc thì lại thể hiển tham vọng mở rộng lãnh thổ sẵn sàng gây hấn với các nước láng giềng. Nói tóm lại mối quan hệ giữa ta và Trung Quốc hết sức phức tạp và nhạy cảm.

    Trả lờiXóa
  67. Giữa ta và Trung Quốc đúng là quan hệ nhạy cảm bởi chúng ta vừa chơi vừa phải cảnh giác với họ. Vẫn quan hệ ngoại giao, giúp đỡ nhau về chính trị kinh tế, hợp tác trên nhiều lĩnh vực nhưng trong chủ quyền biên giới và biển đảo còn nhiều tranh chấp dễ nảy sinh xung đột.

    Trả lờiXóa
  68. Chúng ta ko nhìn nhận mọi việc một cách thiển cận và ko có tầm chiến lược, nhất là vấn đề chủ quyền của nước ta, quan hệ Việt-trung. Đây là những vấn đề hết sức nhạy cảm, vô cùng khó khăn nó đòi hỏi phải có cái nhìn thấu đáo và khôn khéo xử lý vấn đề này ko bị mắc lừa bởi âm mưu thâm độc của trung quốc. chỉ cần đi sai 1 bước là tất cả thành quả cách mạng đã xây dựng bao năm sẽ hỏng bét, nhân dân lại đói nghèo, xã hội hỗn loạn, nhân dân chết chóc...dẫn tới sự chia cách dân tộc, khủng hoảng chính trị, kinh tế... Cho nên chúng ta phải biết mình đang có gì? Sức mạnh gì? điểm yếu gì? Để hạ gục đối phương mà ko mất 1 dọt máu, mất đi thành quả cách mạng của nhân dân. Chúng ta sẽ đòi lại những gì đã mất mà ko phải như bon phản động nói là phải chiến đấu để bảo vệ chủ quyền.

    Trả lờiXóa
  69. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có mối quan hệ từ rất lâu đời và hết sức nhạy cảm. Trung Quốc là một nước lớn, có tiềm lực cả về kinh tế và quân sự. Từ trước đến nay họ luôn lăm le muốn xâm chiếm Việt Nam và đến bây giờ vẫn chưa từ bỏ hết ý định ấy. Còn chúng ta là một nước nhỏ, mọi chính sách đối ngoại phải thật sự khôn ngoan, tinh tế trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp.Song không vì thế mà Việt Nam chịu khuất phục, nhún nhường một cách quá mức như vậy. cÁi gì cũng có giới hạn

    Trả lờiXóa
  70. quan hệ ngoại giao việt nam -trung quốc là một trong những quan hệ phức tạp nhất từ trước đến nay..nó phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh lịch sử..điều kiện địa lý và điều kiện kinh tế chính trị..tuy hai nước đã bình thường hóa quan hệ và đi vào hợp tác và phát triển nhưng hai bên vẫn có những khúc mắc rất khó tháo gỡ

    Trả lờiXóa
  71. từ xưa đến nay trên suốt chiều dài lịch sử phát triển của việt nam tất cả các sự kiện lớn của đất nước đều có sự góp mặt cảu anh bạn lớn trung quốc..bao đau khổ bi thương cũng từ anh này mà ra...do đó vấn đề bang giao giữa hai quốc gia đã được thiết lập từ lâu và rất nhạy cảm

    Trả lờiXóa

 

Thống kê

  • bài viết
  • bình luận

Rank Blog

Lượt xem

.
Chia sẻ