Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

Bàn Về Lòng Yêu Nước

LâmTrực


Ai cũng có thể nói ra hai từ: Yêu nước. 

Có lẽ Yêu nước là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ nên cũng không cần đặt vấn đề yêu nước là gì. Mỗi người dân Việt đều có quyền yêu nước, tất nhiên là yêu nước theo cách của mình. Duy chỉ có một điều mà chúng ta cần phải cân nhắc để thể hiện lòng yêu nước của mình trước cộng đồng sao cho hiệu quả mà không làm cản trở tới nhưng hoạt động của Nhà nước và của người dân. Tóm lại, là bạn có thể thể hiện lòng yêu nước của mình theo cách mà bạn muốn song không được vi phạm luật pháp.

Cần nói thêm, bản thân lòng yêu nước không có tội, mà cách thể hiện lòng yêu nước một cách thái quá có thể đã vi phạm pháp luật một cách có chủ ý hoặc vô ý. Điều đáng nói ở đây là nhiều người nhân danh yêu nước để trục lợi, lợi dụng lòng yêu nước để chống lại Nhà nước, chống lại dân tộc mình.

Tôi không hoàn toàn đồng ý với ý kiến cho rằng, yêu nước là phải ra mặt trận, phải lên biên giới, phải ra hải đảo và phải cầm súng, ném lựu đạn để bảo vệ chủ quyền của đất nước.

Tất nhiên, tôi cũng không hài lòng với ý kiến cho rằng yêu nước là phải đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược lãnh thổ.

Tôi tôn trọng lòng yêu nước của các bạn, nhưng nếu nói rằng tôi không đi biểu tình, tôi không hô hào biểu tình là tôi không yêu nước thì đó là lối nói lộng ngôn thô thiển có hàm ý kích động và xúc phạm đến nhân phẩm của tôi hay của công dân khác.

Nói vê chủ đề này, Nhà văn Trang Hạ bày tỏ quan điểm tôn trọng cả những trường phái khác biệt. Bởi ai cũng có thể nói ra hai chữ yêu nước. Vấn đề hoàn toàn không phải là nghĩ gì - mà là phải làm gì. Và không có nghĩa là khi ai đó nói rằng mình yêu nước, thì phải tống họ lên trên biên giới hay các quần đảo để chứng minh điều đó; hoặc là đặt vào tình huống "nếu có chiến tranh thì bạn có cho con trai đi nhập ngũ?". Theo nhà văn Trang Hạ, "không thể lấy máu để minh chứng cho lòng yêu nước".

Khi tổ quốc lâm nguy, đất nước có chiến tranh, chúng ta sẽ phải thể hiện lòng yêu nước của mình trước hết là ủng hộ Nhà nước thực hiện các đối sách với kẻ thù. Đối sách này không chỉ được tiến hành trên mặt trận bom đạn mà có thể diễn ra dưới nhiều hình thái khác nhau. Như ngoại giao, kinh tế, pháp luật, khoa học kỹ thuật.v.v... Thêm nữa, bạn có thể có những đóng góp bằng các hoạt động cụ thể tùy thuộc vào khả năng mà bạn có cho công cuộc bảo vệ đất nước. Bạn có lòng yêu nước, lẽ dĩ nhiên bạn phải có trách nhiệm với tình yêu đó thông qua hành động cụ thể.

Thực tế đã Có nhiều người quá khích, tư duy bầy đàn về chuyện "cứ phải đưa ra chiến trường thì mới là yêu nước". Trong khi, chúng ta có thể dùng sức mạnh tri thức giành lại những gì đã mất từ tay quân sâm lược.

Trong thời đại này, tư duy lấy thịt đè người không phải là cách cư xử văn minh, và càng không phải cứ xuống đường biểu tình bằng cách gào thét chửi bới là yêu nước chân chính. Ai cũng biết, biểu tình như vừa qua là không thể giải quyết được vấn đề chống xâm lược, trái lại nó gây khó khăn cho việc thực hiện đối sách ngoại giao của Nhà nước với quân xâm lược và góp phần làm rối loạn xã hội, ít nhất là trong một vài khu vực. Vấn đề cơ bản nhất là tránh xung đột, chứ không phải là mang con em, dân thường để tế cho tinh thần yêu nước. Bởi lẽ nếu xảy ra xung đột thì trong thế tương quan lực lượng như hiện nay, chúng ta khó có cơ hội. Trong tình thế đó dù là máu của anh hay của tôi hay con em chúng ta, tất cả đều vô vị.

Tôi cũng đồng ý với một bạn trẻ là sinh viên ở Hà Nội cho rằng yêu nước không nên được bộc lộ bằng hành động cực đoan. Cũng không nên quan niệm rằng, những người lên máy bay ra nước ngoài là không yêu nước.

Chúng ta đều là người Việt, tất thảy đều yêu nước, vậy cớ sao không đoàn kết để tạo ra sức mạnh bảo vệ tổ quốc?


Nguồn: trelang.blogspot.com

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa


Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa


Được đăng bởi KaKaLot
(ĐCSVN) - Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đó là một luận điểm được nêu trong cuốn sách chuyên khảo “Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế” do PGS. TS Nguyễn Bá Diến, Giám đốc Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc tế, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Ths. NCS. Nguyễn Hùng Cường, Giảng viên Bộ môn Luật Quốc tế - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đồng chủ biên, được Cục Thông tin Đối ngoại và Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) vừa giới thiệu và phát hành ngày 7/8/2012 tại Hà Nội.

PGS. TS Nguyễn Bá Diến trả lời phỏng vấn Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. (Ảnh: ĐT)
Các tác giả cuốn sách nêu trên khẳng định, qua các tài liệu lịch sử, địa lý từ xưa đến nay của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây, từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nước Việt Nam đã làm chủ thực sự một cách hòa bình, công khai, liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc. Điều đó càng chứng tỏ từ lâu, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.

Sự công bố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa trước 50 quốc gia hội viên thành lập Liên Hợp quốc tại Hội nghị San Francisco năm 1951 chứng tỏ rằng, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được các quốc gia trên thế giới thừa nhận là thuộc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Chủ biên cuốn sách, PGS. TS Nguyễn Bá Diến cho rằng, “đường lưỡi bò” không thể mang lại cho Trung Quốc quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển nằm phía trong đường này theo quy chế của bất kỳ vùng biển nào, kể cả Vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Công ước Luật Biển 1982. Một đường vạch được thể hiện một cách hết sức mơ hồ, đứt đoạn, tùy tiện, không có tọa độ cụ thể, phi khoa học, trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về hoạch định biên giới (ranh giới) quốc gia và nằm cách xa lục địa Trung Quốc hàng ngàn cây số không thể đáp ứng theo các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Nhiều luật gia, học giả và nhà nghiên cứu nổi tiếng thế giới đều nhận định về yêu sách “đường lưỡi bò” là một yêu sách vô lý, hoàn toàn không có cơ sở khoa học, không có giá trị pháp lý quốc tế và không ai có thể chấp nhận được.


PGS. TS Nguyễn Bá Diến: Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh
chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (Ảnh: ĐT)Theo PGS. TS Nguyễn Bá Diến, xét một cách khách quan và toàn diện, dựa trên những căn cứ pháp lý, lịch sử và chính trị, Bức thư ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ có mục đích nhằm ủng hộ Trung Quốc chống lại chính sách bao vây trên biển của Mỹ trong eo biển Đài Loan, đe dọa tới nền an ninh quốc gia của Trung Quốc vào thời kỳ đó, hoàn toàn không chứa đựng bất kỳ sự từ bỏ nào chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Nội dung bức thư là một sự cam kết mang tính ngoại giao, một hình thức thường được các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ sử dụng để thể hiện sự đoàn kết về mặt tư tưởng với nhau. Từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ tuyên bố hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam cũng như công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trái lại, các chính quyền của Việt Nam từ trước đến nay đều nhất quán thể hiện lập trường khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng như thực hiện việc quản lý liên tục đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam có đầy đủ căn cứ khoa học, lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo này.

Như vậy, lập luận của phía Trung Quốc là không có căn cứ và giá trị pháp lý, trái với luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế cũng như thực tiễn quan hệ Việt – Trung. Những ai đó mưu toan dùng nội dung bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng để biện minh cho ý đồ xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam sẽ không thể ngụy biện dưới ánh sáng của luật pháp và công luận quốc tế.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam ở thềm lục địa và các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, theo PGS. TS Nguyễn Bá Diến, Việt Nam cần tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp trên các phương diện, cụ thể như: Nâng cao nhận thức chính trị, xây dựng ý thức làm chủ biển đảo cho mọi tầng lớp nhân dân; bên cạnh các chiến lược quản lý, thăm dò và khai thác thềm lục địa, cần hình thành một hệ thống văn bản pháp luật về thềm lục địa đầy đủ, toàn diện, thống nhất; đồng thời, thành lập cơ quan quản lý chuyên biệt về thềm lục địa. Đầu tư thích đáng về vốn và cơ sở hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực đội ngũ cán bộ, chuyên gia trong các lĩnh vực biển và thềm lục địa. Bên cạnh đó là các biện pháp về chính trị, ngoại giao; hợp tác quốc tế; an ninh – quốc phòng; xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ biển của Việt Nam; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp quốc.

Thứ nhất, từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Thứ hai, từ đó đến nay, trong suốt mấy thế kỷ, ít nhất là từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thật sự và liên tục chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba, Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ tư, chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn tài phán quốc tế.

Thứ năm, những quy định của Công ước Luật Biển của Liên Hợp quốc đã thiết lập nền tảng pháp lý quốc tế nhằm ghi nhận quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. Như vậy Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển đã cấp “Sổ đỏ” cho các quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam, đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình mà không ai được quyền xâm phạm.
(Trích cuốn sách “Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế”)

Nguồn: nguoicondatme.blogspot.com

VÌ DÂN CHỦ HAY VÌ TIỀN?


VÌ DÂN CHỦ HAY VÌ TIỀN?
Được đăng bởi henry frank
Lâm Trực

Mới đọc bài báo Blogger Cu Vinh có dấu hiệu chiếm đoạt gần 200 triệu ủng hộ gia đình anh Vươn làm tôi chột dạ, tai sao những nhà đấu tranh dân chủ cứ thích lập quỹ quyên góp ủng hộ cá nhân này, cá nhân kia, rồi lem nhem chuyện tiền bạc để đánh mất uy tín bản thân, đánh mất sự chính nghĩa của mình, là cớ để báo chí lề phải, chính quyền “bôi nhọ” họ?
Nhóm ông Nguyễn Huệ Chi từng bị “nhóm hacker” lạ tấn công, lấy đi một số thư trao đổi nội bộ nhóm rồi dựng chuyện ông HUệ Chi có ý định lem nhem 4000 USD từ quỹ ủng hộ đồng bào lũ lụt do trang mang Bauxite Việt Nam liên kết với đại gia Phùng Liên Đoàn ở Mỹ lập ra, dẫn đến mâu thuẫn nội bộ và việc ông Toàn muốn rút khỏi Ban điều hành trang mạng này. Dù rằng sự việc đã được ông Phạm Toàn lên tiếng phủ nhân, nhưng sau đó sự tan rã của nhóm “sáng lập viên” trang mạng và việc ông HUệ Chi cho chấm dứt vĩnh viễn các việc lập quỹ, quyên góp...cũng như sự thừa nhận những “kẻ gian” kia khai thác thông tin nội bộ để chia rẽ khối đã cho thấy phần nào sự thật của vụ việc. Để bảo vệ danh tiếng cho các trí thức đấu tranh dân chủ, việc ông Huệ Chi rút lui hoàn toàn khỏi việc gây quỹ được xem là khôn ngoan, sáng suốt bởi đồng tiền luôn có hai mặt.
Việc nhóm ông Nguyễn Xuân Diện thì không, ông này gần đây đẩy mạnh việc lập các quỹ quyên góp ủng hộ gia đình ông Đoàn Văn Vươn, chị Bùi Hằng, CLB NO-U, ..với số tiền hàng trăm triệu cho mỗi quỹ , mặc dù ông Diện cố gắng công khai, mình bạch người gửi những cũng đã có vô số chuyện bên lề sinh sôi rồi, như:

(1) chuyện lình xình từ nhận chuyển tiền ủng hộ của ông Nguyễn Hữu Việnở Pháp (ban đầu ông Diện thông báo công khai đã nhận được nhưng vì CMT hết hạn nên không rút được, sau đó lại đính chính không nhận được khiến ông này khá bức xúc).

(2) Những người từng quyên góp khác tố trên diễn đàn Đất Việt Quỹ Nguyễn Xuân Diện lập ra để làm gì?, với các nghi vấn về đã gửi hàng chục ngàn đô mà không thấy “ghi danh”?

(3) Vô khối những ý kiến ngoài lề như, tại sao cả nửa năm rồi, quỹ ủng hộ gia đình ông Vươn cứ nằm im không khác gì quỹ của Cu Vinh ở trên sau cái lần trao hơn 70 triệu đến gia đình và những cán bộ công an bị thương đầu năm 2012?, mấy trăm triệu đó cứ gửi lãi ngân hàng cũng khá lắm chứ, để càng lâu càng tốt?, Trang blog Xuân Diện nổi tiếng trong cộng đồng người Viêt như thế mà sao quyên góp được ít vậy sao, không bằng một bữa tiệc gây quỹ ở hải ngoại? Trong thời đại chuyển phát nhanh, ATM, chuyển tiền vào tài khoản sao cái nick chuột... này việc chuyển tiếp tới gia đình cần ủng hộ vô cùng thuận lợi, minh bạch, sao ông DIện không làm?

(4) CLB Bóng đá NO-U được nhiều người ủng hộ, việc này ông Diện tự thu, tự quyết toán, nhưng hầu hết anh em trong đội bóng này đều cho biết, từ việc thuê sân, ăn uống sau đá bóng đều là “dưa góp” cả, làm gì có thấy bóng dáng tài trợ ở đâu?

Nhìn chung dư luận quanh vụ quỹ ông Xuân Diện này rất nhiều. Những thắc mắc, tiền từ đâu mà ông đứng lên tổ chức những buổi gặp mặt, liên hoan cỡ VIP, trung bình, dân dã sôi nổi đến thế.Tất nhiên không thể bỏ tiền túi ra được. NHưng nếu tiền quyên góp các quỹ trên có chi vào việc ăn nhậu đó thì cũng tốt, đều có lợi chung cả, song người cầm cân này mực, đứng mũi chịu sào sẽ còn tiếp tục giơ đầu chịu báng, thâm chí nguy cơ từ chính công an, mật vụ dày đặc.

Trong phong trào dân chủ, những chuyện tiền bạc luôn là đề tài nóng bóng, là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự rạn nứt, chia rẽ sâu sắc như ngày nay. Chuyện ông Trần Khuê lập quỹ hỗ trợ cho ông Hà Sỹ Phu và Quỹ ủng hộ phong trào dân chủ dẫn đến tố cáo như "Thư của 1 du học sinh gửi Ô Trần Khuê" đã làm mất hoàn toàn uy tín của ông này, giờ ông ta vẫn còn hăng hái đấu tranh mà xem như chăng ai để ý đến nữa. Chuyện TRần Khải Thanh Thủy và ông Nguyễn Khắc Toàn tự tố cáo nhau và lôi kéo dân oan trong chuyện triệt hạ lẫn nhau để kiểm soát lĩnh vực đầu mối ủng hộ dân oan từ các cá nhân, tổ chức hải ngoài. Chuyện ông Nguyễn Thanh Giang là đầu mối nhận tiền giải thưởng nhân quyền của ông Trần Anh Kim, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Dũng Tiến,,,cũng bị tố lem nhem hay việc nhận tiền từ ông Nguyễn Gia Kiểng làm Tập san Tổ quốc với số lượng hàng chục ngàn đô mỗi năm nhưng chi ra nhỏ giọt,...

Ở hải ngoại, giữa những người Việt với nhau, chuyên quyên góp ủng hộ phong trào dân chủ mới là “nghề” canh tranh khốc liệt giữa các tổ chức.
Nhìn chung pháp luật Việt Nam chưa có quy định kiểm soát các quỹ tư nhân này như pháp luật nhiều nước Mỹ, Anh, Úc,..khi ở đó nếu là quỹ phi lợi nhuận phải có báo cáo chi tiết cho chính quyền và công chúng kiểm soát. Khi chưa có hành lang pháp lý hữu hiệu thì chưa có công cụ pháp lý quản lý những người lập quỹ và bảo vệ những người quyên góp. Hơn nữa vấn đề tiền nong luôn là “điểm yếu” chính quyền lợi dụng để kết tội những người đấu tranh. Bởi vậy đây sẽ luôn là vấn đề nhức nhối, phá hoại phong trào dân chủ trong nước nếu người lập quỹ không đủ uy tín, minh bạch, sáng suốt. Phải chăng cách rút lui của nhóm Bauxite với lĩnh vực này là sự khôn ngoan, không vì lợi nhỏ mà hại ích lớn, thậm chí còn hại đến thân.


Nguồn: nguoicondatme.blogspot.com

Vẻ đẹp rực rỡ của biển trời Trường Sa


Vẻ đẹp rực rỡ của biển trời Trường Sa

Ngày 8/8 tới đây, tại Hà Nội sẽ diễn ra Triển lãm Cảm xúc Trường Sa của NSNA Vũ Anh Tuấn, hiện công tác tại Ban báo Thời Nay – Báo Nhân Dân. Đây cũng là triển lãm đầu tiên của NSNA Vũ Anh Tuấn, mặc dù từ lâu anh được đánh giá là nghệ sĩ xuất sắc của Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam và Liên đoàn nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế với các tước hiệu EVAPA và EFIAP.
Cảm xúc về Trường Sa gồm 68 tác phẩm nhiếp ảnh được NSNA Vũ Anh Tuấn ghi lại trong lần công tác ra quần đảo Trường Sa hồi tháng 4 vừa qua.
Tất cả những cú bấm máy đều thể hiện ý thức, tình cảm một công dân, một nghệ sĩ, hướng về phần không thể tách rời của tổ quốc, của dân tộc, con người Việt Nam.
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Bao la biển trời Trường Sa
NSNA Vũ Anh Tuấn sẽ truyền lại cảm xúc này đến người xem bằng 3 phần gồm: Phong cảnh một số điểm đảo trên quần đảo Trường Sa; Cán bộ chiến sĩ trong lao động, học tập, huấn luyện hàng ngày; Những khoảnh khắc bất chợt qua góc nhìn của nhiếp ảnh.
Công chúng yêu nghệ thuật nhiếp ảnh sẽ được chiêm ngưỡng không gian biển đảo quê hương với vẻ đẹp rạng rỡ, nhiều màu sắc của nắng gió, mây trời và sóng nước Trường Sa. Hiện diện trong không gian ấy là vẻ đẹp của đời sống dung dị, của tinh thần lạc quan, lòng tin yêu cuộc sống và trọng trách cao cả mà các chiến sĩ Trường Sa đang gánh vác.
Cảm xúc Trường Sa khai mạc vào sáng ngày thứ Tư 8/8 tại 93 Đinh Tiên Hoàng – Hà Nội và diễn ra đến hết ngày 14/8. Kết thúc triển lãm, Báo Nhân Dân, Ban báo Thời Nay, NSNA Vũ Anh Tuấn sẽ gửi tặng toàn bộ số ảnh trong triển lãm đến Bộ Tư lệnh Hải quân để làm tư liệu tuyên truyền về Trường Sa và biển đảo Việt Nam.
Những tác phẩm sẽ trưng bày tại triển lãm của NSNA Vũ Anh Tuấn:
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Ngàn con sóng dữ
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Sắc cầu vồng
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Mắt đảo
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Tổ quốc gần bên
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Ra thăm đảo
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Chào ngày mới
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Lộng gió Trường Sa
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Nhiệm vụ thường xuyên
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Ngày lao động bình thường của chiến sĩ
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Hương quê trên đảo
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Vườn ươm cây bàng vuông
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Bình minh trên đảo
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Dạn dày sóng gió
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Vẽ sóng
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Sóng sánh màu biển
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Tĩnh lặng
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Nhịp điệu
Trường Sa, Cảnh Đẹp Việt Nam
Khoảng cách được thu hẹp

Nguồn: vietnamngayve.blogspot.com

“Quan làm báo” đã bịa đặt như thế nào?


“Quan làm báo” đã bịa đặt như thế nào?


Trong bài viết trước, Petrotimes đã phân tích cách đưa tin, thủ đoạn lợi dụng lòng tin của người đọc vào những sự kiện có thật, từ đó nhào nặn thông tin, đánh lừa độc giả của “Quan làm báo”. Trong văn bản chỉ đạo ra ngày 12/9, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ: Đây là thủ đoạn thâm độc gây chia rẽ của những kẻ cơ hội chính trị.
Hẳn tất cả chúng ta đều muốn “biết mặt, nghe tên” của những kẻ được gọi là “Quan làm báo”. Đó là ai mà có khả năng dẫn dụ, đánh lừa người đọc, là ai mà biết ném đá rồi lại biết giấu tay rất khéo? Hẳn không phải là kẻ tầm thường!
Trước hết, chúng ta hãy cùng phân tích những điều mà “Quan làm báo” đã bịa đặt để đánh lừa dư luận.
Ông Trầm Bê trả lời báo chí bên lề Lễ Ký kết hợp đồng tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa diễn ra sáng ngày 28/8.
Ông Trầm Bê trả lời báo chí bên lề Lễ Ký kết hợp đồng tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa diễn ra sáng ngày 28/8.
Đầu tiên là sự kiện “bầu” Kiên bị bắt. Thanh Niên vốn là một trong những tờ báo dám đấu tranh với nạn tiêu cực nhưng cũng bị “Quan làm báo” đưa vào tầm ngắm đầu tiên bằng việc vu cáo “Vụ bầu Kiên: Báo chí ăn tiền đâm toạc tờ giấy”.
Như Petrotimes đã phân tích ở bài viết trước, “Quan làm báo” đã lợi dụng đúng sự kiện nóng mà dư luận đang quan tâm là “bắt bầu kiên – một người nổi tiếng” – để làm thông tin nền và từ đó nhào nặn ra các thông tin không có thực về việc “mua chuộc báo chí”… Quan làm báo đã hướng sự tò mò của người đọc theo chủ ý xấu của mình – chĩa mũi dùi vào tờ mà “Quan làm báo” “không ưa” – tờ Thanh Niên.
Ngay sau đó, Báo Thanh niên đã lên tiếng: “Gần đây trên một số trang mạng cho rằng một số tờ báo trong đó có cả Thanh Niên, đã đăng tải các bài viết “nhằm tô son, trát phấn” cho các ông Trầm Bê và bầu Kiên. Thanh Niên xin thông báo cùng bạn đọc: những thông tin (liên quan đến Thanh Niên) này là hoàn toàn bịa đặt. Thanh Niên khẳng định trong suốt thời gian qua không đăng bất cứ một bài viết nào về các nhân vật được đề cập”.
Bị "Quan làm báo" vu cho là "đã bị bắt" nhưng ông Nguyễn Đăng Quang lại xuất hiện trong lễ phát động của Tập đoàn Masan.
Bị "Quan làm báo" vu cho là "đã bị bắt" nhưng ông Nguyễn Đăng Quang lại xuất hiện trong lễ phát động của Tập đoàn Masan.
Nhiều bạn đọc trên internet đã cố công tìm kiếm nhưng cũng không thể tìm thấy bài viết nào về Bầu Kiên và Trầm Bê đăng trên báo Thanh Niên. Điều bịa đặt bị phanh phui đã khiến nhiều bạn đọc giật mình trước việc: Lâu nay, bị “Quan làm báo” dẫn dụ, dẫn đến việc “nói gì cũng tưởng là thật”.
Tiếp theo là vụ bắt Tổng giám đốc Ngân hàng ACB Lý Xuân Hải. Trong vụ này, Petrotimes là tờ báo đưa thông tin đầu tiên về việc Lý Xuân Hải bị VKS Nhân dân Tối cao phê chuẩn lệnh khởi tố và bắt tạm giam 4 tháng. Tuy nhiên, ngay sau khi Petrotimes đăng tin, “Quan làm báo” đã lấy lại thông tin đưa về trang web của mình và “hô hào” như một nguồn tin riêng, tin khám phá được. Từ đó “thêm mắm thêm muối” xoay quanh vụ việc này.
Sau vụ bắt Lý Xuân Hải, “bầu” Kiên, thị trường tài chính ngân hàng đã có lúc rơi vào hỗn loạn và như một kẻ chớp cơ hội cực giỏi, “Quan làm báo” đã liên tiếp “câu khách” bằng việc đưa dồn dập các thông tin liên quan đến những doanh nhân của ngành tài chính ngân hàng.
Ông Hồ Hùng Anh tại Lễ phát hành “Báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012” (thứ 3 từ trái sang). Ông là một trong những nạn nhân của việc đưa "tin vịt" của "Quan làm báo".
Ông Hồ Hùng Anh tại Lễ phát hành “Báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012” (thứ 3 từ trái sang). Ông là một trong những nạn nhân của việc đưa "tin vịt" của "Quan làm báo".
Đầu tiên là việc “Quan làm báo” đưa tin “Chủ tịch Tập đoàn Masan đã bị bắt”. Quả thật, trong một vài ngày, ông Nguyễn Đăng Quang cũng đã vắng mặt ở nơi làm việc, không phải vì ông bị bắt mà là vì ông đưa con ra nước ngoài đi du học.
Trang web cơ hội chính trị đã nắm đúng thời điểm ông Quang đi vắng để tung tin đồn gây hoang mang với cả các cổ đông của Masan và Techcombank. Chưa hết, “Quan làm báo” còn “vẽ” thêm một loạt các bài viết về sai phạm kinh tế của ông này.
Tuy nhiên, đây là vụ việc mà trang web này bị “việt vị” hoàn toàn.
Đến chiều ngày 27/8, ông Nguyễn Đăng Quang bay về TP. HCM và có mặt tại khách sạn New World để dự buổi lễ phát động thi đua của Tập đoàn Masan thì mọi người mới vỡ lẽ ra là bị “Quan làm báo” lừa.
Khi lần “việt vị” đó, “Quan làm báo” gần như im lặng, “không kèn không trống” gì về thông tin ông Nguyễn Đăng Quang. Cho đến ngày 7/9, “Quan làm báo” tiếp tục “quăng bom” bằng việc đưa tin: Hồ Hùng Anh – Chủ tịch Techcombak bị bắt. “Bổn cũ soạn lại” trang web này lại ném tới tấp các thông tin bôi xấu ông này lên mạng.
Tuy nhiên, sáng 8/9, ông Hồ Hùng Anh đang tham dự buổi Lễ phát hành “Báo cáo thường niên Chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012”. Bộ phận truyền thông của Ngân hàng Techcombak gửi cho các báo, đài 1 bức ảnh ông Quang ở bên ngoài hội trường, mọi người mới vỡ lẽ thêm một lần bị “Quan làm báo” lừa.
Trang web này còn cố đấm ăn xôi, lấy lý do “ảnh cũ rích” “cắt ghép” và đưa thêm bài “Khẳng định Hồ Hùng Anh đã bị bắt & Thông tin đang bị dấu nhẹm!”. Đáp lại, phóng viên các báo đài có mặt tại buổi lễ đã công bố thêm một loạt ảnh ông Hồ Hùng Anh phát biểu, nhận giải thưởng.
“Việt vị” thêm lần nữa, Quan làm báo “im bặt” rút lui không kèn không trống vụ việc này. Cũng sau lần “hớ” này, những kẻ cơi hội làm trang Quan làm báo như “không giữ được bình tĩnh” vì liên tiếp bị bóc mẽ, Trang web hướng ra các bài viết chửi đổng,
Ngày 24/8, “Quan làm báo” lại đưa tin “Trầm Bê xin được quản thúc” với nội dung: “Trầm Bê hiện nay đã được Ban chuyên án quản thúc nhằm bảo vệ tính mạng cho ông ta”.
Vu cho ông Trầm Bê là “công an quản thúc” nhưng ông này lại có mặt tại lễ Ký kết hợp đồng tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa diễn ra sáng ngày 28/8. Người hiểu biết sẽ nhận ra ngay: Đời nào một người đang bị quản thúc mà lại được đi ký kết hợp đồng tín dụng doanh nghiệp!
Tin của “Quan làm báo” ngây ngô đến nỗi, ông Trầm Bê phải hóm hỉnh với các phóng viên: “Ngày hôm nay sẵn dịp được các cơ quan báo đài, truyền hình hỏi thăm về tôi, tôi rất cám ơn…” Ông cũng khẳng định chưa hề bị công an mời, bị hỏi thăm hay gì cả. Tất cả đều là tin thất hiệt.
Tự cho mình là "nhà thông thái về chính trị" nhưng "Quan làm báo" lại không phân biệt nổi Chủ tịch UBND TPHCM và một... nhạc sỹ.
Tự cho mình là "nhà thông thái về chính trị" nhưng "Quan làm báo" lại không phân biệt nổi Chủ tịch UBND TPHCM và một... nhạc sỹ.
Chưa hết, trong nhiều bài viết tung lên, mặc dù luôn gồng mình, “tỏ ra nguy hiểm” nhưng “Quan làm báo” đã thể hiện sự xào xáo “ít học” của mình. Ví dụ đến tên của Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân mà lại nhầm thành tên… nhạc sỹ Đỗ Hồng Quân. Hay việc trang web này soạn thảo công văn giả mạo của Văn phòng Chính phủ, đóng dấu “tuyệt mật” nhưng lại… viết sai mẫu và tệ hơn lại còn sai chính tả.
Trong văn bản chỉ đạo ra ngày 12/9, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ: Những trang web đưa thông tin sai kiểu này chính là thủ đoạn thâm độc gây chia rẽ của những kẻ cơ hội chính trị. “Quan làm báo” là sản phẩm của các phần tử phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài, có sự tiếp tay, cung cấp thông tin của các đối tượng tha hóa, biến chất trong nước nhằm phá hoại nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng và dư luận nhân dân.
Vì thế cần phải tìm cho ra những kẻ tiếp tay cho chúng và nghiêm trị. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần đẩy mạnh công tác truyền thông – trong đó quan trọng đặc biệt là cần cung cấp kịp thời thông tin chính xác về các vụ việc nhạy cảm.

Nguồn: vietnamngayve.blogspot.com

Sức mạnh đấu tranh chính trị và vũ trang quần chúng


Sức mạnh đấu tranh chính trị và vũ trang quần chúng

QĐND - Sau khi đảo chính Pháp (9-3-1945) chiếm Sa Đéc, quân đội Nhật xây dựng bộ máy chính quyền phát xít hóa ở đây. Các phe phái, đảng phái ráo riết hoạt động ở thị xã Sa Đéc, các huyện Châu Thành, Lai Vung, Cao Lãnh chuẩn bị lực lượng để tranh giành ảnh hưởng. Một số nơi, quần chúng nhân dân tự phát nổi dậy, tự vũ trang chống bọn địa chủ, chúa đất...
Tỉnh ủy lâm thời Sa Đéc, Cao Lãnh kịp thời họp bàn, phân tích tình hình và yêu cầu các chi bộ Đảng phải tổ chức tập hợp quần chúng bằng các hình thức, lãnh đạo và kêu gọi quần chúng bình tĩnh, không manh động tự phát, mắc mưu địch. Các tổ chức Đảng lãnh đạo, gấp rút chuẩn bị lực lượng, xây dựng LLVT, luyện tập quân sự, trang bị vũ khí chờ lệnh khởi nghĩa. Mặt trận Việt Minh tích cực tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng. Ở các vùng yếu, các chi bộ Đảng phân công đảng viên trực tiếp tổ chức lại phong trào; tập trung xây dựng, củng cố 5 chi bộ Đảng tại huyện Hồng Ngự, làm cơ sở để phát triển ra toàn tỉnh, chuẩn bị mọi mặt cho tổng khởi nghĩa.
Chớp thời cơ phát xít Nhật đầu hàng, ngày 23-8-1945, Tỉnh ủy lâm thời Sa Đéc lãnh đạo chi bộ xã Mỹ An Hưng và Tân Mỹ (thị xã Sa Đéc) phát động quần chúng cốt cán, tự vũ trang kéo đến trụ sở tề, đồng thời, Tỉnh ủy phát động quần chúng các địa phương lân cận khởi nghĩa kéo về Tân Mỹ. Trước sức mạnh của quần chúng, bọn tề, ngụy buộc phải giao chính quyền cho Mặt trận Việt Minh. Thắng lợi này còn là cơ sở để Ban Thường vụ Tỉnh ủy khẳng định quyết tâm phát triển tổng khởi nghĩa thắng lợi trên toàn tỉnh. Ngày 23-8-1945, nhờ nắm được quy luật tuần tra, canh gác của binh lính đồn bảo an Phong Mỹ (thị xã Sa Đéc), Chi bộ xã Phong Mỹ và du kích cải trang giả làm lính địch, bất ngờ đánh chiếm, bắt sống toàn bộ 13 tên lính bảo an và tên đồn trưởng, thu toàn bộ vũ khí. Tin đồn Phong Mỹ bị mất, trước khí thế sục sôi của cách mạng, như phản ứng dây chuyền, hàng loạt đồn, bốt địch tan rã.
Theo phương án đã dự kiến, sáng 25-8-1945, quần chúng chiếm nhà bưu điện, bao vây chặt trụ sở quận trưởng… buộc chúng phải bàn giao chính quyền, giành chính quyền ở Cao Lãnh nhanh gọn... Tại thị xã Sa Đéc, lực lượng hùng hậu quần chúng và các trung đội du kích vũ trang làm áp lực nhất tề nổi dậy kéo về thị xã, vây chặt trụ sở chính quyền, giành chính quyền về tay Ủy ban khởi nghĩa.

Nguồn: vietnamngayve.blogspot.com

Nhân Quyền?

Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2012 mang mã số H.R.1410 mà Hạ viện Mỹ vội vã biểu quyết thông qua tối 11/9 vừa qua là một bước đi lạc hướng.


Nhân quyền là một trong ba vấn đề được Liên Hợp quốc coi là trụ cột, cùng với Hòa bình và An ninh phát triển. Ngay từ khi khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, 2/9/1945, trong Bản Tuyên ngôn độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập trực tiếp tới vấn đề dân chủ nhân quyền và coi đây là một vấn đề cấp bách, quan trọng cần đặc biệt quan tâm thường xuyên và xuyên suốt.


Trong những năm qua, Việt Nam và Mỹ đã có những bước phát triển đáng kể trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Sau hai mươi năm gián đoạn kể từ khi kết thúc chiến tranh, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 11 tháng 7 năm 1995, Ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên sâu và đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực. Tuy nhiên, bên cạnh đó, phía Mỹ vẫn luôn có những động thái nhằm triệt để lợi dụng các vấn đề đối nội đối ngoại của ta, trong đó có vấn đề nhân quyền để chống phá ta.


Điển hình là mới đây nhất Hạ viện Quốc hội Hoa Kỳ chiều ngày 11/9/2012 đã thông qua Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012 số hiệu là H.R.1410, theo thông cáo báo chí đăng trên website của dân biểu liên bang Chris Smith. Tác giả Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012, Dân biểu Chris Smith nói chính phủ Hoa Kỳ cần phải gửi một thông điệp rõ ràng với chính phủ Việt Nam rằng Hà Nội phải chấm dứt các hành vi vi phạm nhân quyền đối với công dân.


Theo dự luật này, Hoa Kỳ không được viện trợ không có mục đích nhân đạo cho Việt Nam nếu Tổng thống Mỹ không xác nhận được với Quốc hội Hoa Kỳ rằng Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt là phóng thích tất cả tù nhân chính trị và tôn giáo, bảo vệ quyền tự do hội họp, tự do lập hội, và tự do tôn giáo của người dân.


Dự luật đặt mục tiêu thúc đẩy tự do và dân chủ ở Việt Nam thông qua điều tiết các khoản tăng viện trợ phi nhân đạo của Mỹ cho chính quyền Việt Nam, buộc vào các cải thiện có thể chứng thực được trong hồ sơ nhân quyền của Hà Nội. H.R.1410 cũng cung cấp hỗ trợ của Hoa Kỳ cho các cá nhân và tổ chức hoạt động trong lĩnh vực cổ súy nhân quyền ở Việt Nam.


Phát biểu tại Hạ Viện hôm 11/9, dân biểu Smith nói dự luật được sự ủng hộ mạnh mẽ của các thành viên trong Hạ Viện thuộc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, và ông hy vọng Thượng Viện Hoa Kỳ sẽ đồng ý cho dự luật này chính thức trở thành luật để Hoa Kỳ có thể hậu thuẫn mong mỏi lâu nay của người dân Việt Nam về một nền dân chủ và các quyền tự do căn bản của con người được tôn trọng tại Việt Nam. Dân biểu Chris Smith từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và đã được Hạ Viện Mỹ thông qua cả hai lần, nhưng bị chặn lại khi lên đến Thượng Viện.


Đây rõ ràng là một chiêu bài quen thuộc mà Hạ viện Mỹ sử dụng để xuyên tạc đường lối chính sách về nhân quyền của Việt Nam. Chúng lợi dụng sự hiểu biết không đầy đủ về nhân quyền ở Việt Nam của cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài để gây ra hiểu lầm, mâu thuẫn và dẫn tới kích động, lôi kéo, tạo dựng những làn sóng chống đối Việt Nam. Từ đó chúng đi đến chống phá ta, hạ thấp uy thế và vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm niềm tin của quần chúng nhân dân vào đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta nói chung.


Dự luật trên do Tiểu ban châu Phi, Y tế toàn cầu và Quyền con người đưa ra chứ không phải Tiểu ban châu Á-Thái Bình Dương, nơi chịu trách nhiệm mọi phán quyết về chính sách của Mỹ liên quan tới Việt Nam. Bằng cách làm không theo con đường chính danh này, Tiểu ban về châu Phi đã không thu thập thêm những thông tin chính xác trước khi đưa một dự luật méo mó như vậy. Bởi thế, dự luật chỉ là cái nhìn phiến diện thậm chí chứa đựng đầy màu sắc ý kiến chủ quan và áp đặt mà Hạ viện Mỹ sử dụng nhằm âm mưu chống phá Việt Nam.


Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.


Dự luật H.R. 1410 dựa trên những thông tin lạc hậu không phản ánh được sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam. Dự luật H.R.1410 cũng thiển cận trong cách đặt vấn đề và đi ngược lại các nỗ lực của các chính quyền Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama nhằm tăng cường quan hệ với Việt Nam. Dự luật được đưa ra dựa trên sự áp đặt các tiêu chí mà Hạ viện Mỹ cho là chuẩn mực về nhân quyền. Việc đem các tiêu chí nhân quyền ở một đế quốc Tư bản áp đặt vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa là một điều hoàn toàn sai lầm và lạc hướng. Phía Mỹ vu cáo Việt Nam không có tự do dân chủ, không có quyền tự do báo chí. Chúng đề cao các giá trị nhân quyền ở Phương Tây. Cái mà chúng gọi là Nhân quyền thực chất chính là nhân quyền vô chính phủ. Chúng đòi hỏi phía ta cũng phải áp dụng những mô hình nhân quyền giống như chúng, được tự do ngôn luận không có kiểm soát và quản lý, được quyền biểu tình chống đối chính phủ là các nhà lãnh đạo… Nhất là từ sau khi mô hình Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, chúng ngày càng tích cực sử dụng chiêu bài này để nhằm chống phá, lật đổ Nhà nước ta. Chúng luôn tranh thủ lợi dụng những sơ hở, sai sót, yếu kém của ta trong quản lý, điều hành đất nước; thậm chí trắng trợn đổ lỗi cho Đảng Nhà nước ta nhằm bôi nhọ lãnh tụ ta, hạ thấp vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng thông qua những phương thức này nhằm triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền tạo ra mâu thuẫn, kích động và tự diễn biến trong chính nội bộ ta, nhằm đi tới kích động tư tưởng ly khai, bạo loạn chính trị, gây mất ổn định an ninh trật tự.


Về cách tiếp cận trong vấn đề nhân quyền, Hạ nghị sỹ Faleomavaega nói: “Tôi không nhất trí với cách nhìn nhận về nhân quyền của một số nghị sỹ Mỹ, những người có thiên hướng áp đặt tiêu chí mà họ cho rằng chuẩn mực trong vấn đề này. Mỗi nước đều có giá trị và nguyên tắc riêng trong thực thi nhân quyền. Tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam đã làm những gì tốt nhất. Tôi luôn phản đối việc các Nghị sỹ Mỹ chỉ trích tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Tôi cho rằng thực tế nhân quyền tại Việt Nam chưa được Hạ viện phản ánh chính xác”.


Một dự luật được Hạ viện Mỹ thông qua mà nay ngay chính thành viên của Hạ viện đó nêu rõ chính kiến phản đối với đầy đủ bằng chứng, lý lẽ khoa học, cho thấy tính áp đặt của một nhóm người trong Hạ viện không thể che lấp được sự thật khách quan. Hơn nữa, Mỹ luôn rao giảng về nhân quyền trong khi chính từ phía Mỹ cũng có những hoạt động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Ví như việc Mỹ thường xuyên lợi dụng các hoạt động của Liên hợp quốc để có các động thái can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, gây chiến tranh vũ trang ở các quốc gia. Riêng với Việt Nam, việc Mỹ sử dụng chất độc màu da cam và các loại chất độc độc hại trong chiến tranh Việt Nam là một việc vi phạm nghiêm trọng đến nhân quyền. Các loại hóa chất này gây ảnh hưởng nghiêm trọng trong suốt một thời gian dài và đến tận hiện tại, các thế hệ tiếp sau vẫn phải gánh chịu hậu quả từ những hành động phi nhân tính đó của Mỹ. Một điều đáng lên án hơn nữa là phía Mỹ đã không thực sự đứng ra chịu trách nhiệm về hành động này của mình. Điều này cũng đã gây ra sự phẫn nộ và lên án gay gắt của cộng đồng dư luận quốc tế.


Rõ ràng, ta có thể thấy, dự luật H.R.1410 đã dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam. Việc thông qua dự luật và nghị quyết nói trên là sai trái, không phù hợp với xu hướng phát triển của quan hệ giữa hai nước. Dự luật có thể tác động tới mối quan hệ an ninh của Mỹ với Việt Nam, làm giảm các cơ hội đối thoại về nhân quyền giữa hai nước và cũng không phục vụ tốt nhất cho lợi ích của Mỹ cũng như cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Một vài ý kiến về vụ án Cù Huy Hà Vũ và vấn đề nhân quyền


 Đã hơn một năm trôi qua kể từ khi tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án của luật sư Cù Huy Hà Vũ (04/04/2011), và dư luận về vụ án đầy rẫy những tiếng khen chê này cũng đã lắng xuống. Thế nhưng hôm nay, trước những vấn đề nhức nhối về dân chủ và nhân quyền đang đặt ra ở Việt Nam, một lần nữa chúng ta cần nhìn lại, dưới một góc độ khác, đó có lẽ đây không còn là vấn đề của một cá nhân hay một phiên tòa nữa mà đó là vấn đề của cả dân tộc Việt Nam và của cả hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 Tuy rằng dưới góc độ một sinh viên, với những hiểu biết có lẽ còn rất nhiều hạn chế về các vấn đề chính trị, lịch sử đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm đang gây nhiều tranh cãi nhưng không phải vì thế mà tôi hay chúng ta – những sinh viên, những con người đại diện cho một đất nước trí thức và thực sự dân chủ trong tương lai mặc nhiên đứng ngoài quan sát mà không có những tiếng nói của chính mình.
 Hãy khoan nói về những luận điệu của vị Tiến sĩ luật, Thạc sĩ văn chương, họa sĩ – Hội viên hội mỹ thuật Việt Nam… mà hãy nói về mục đích của con người này – con người luôn tự cho rằng mình đang cống hiến cả cuộc sống, mạo hiểm cả sinh mạng để đất nước này thay đổi, vì một nền tự do dân chủ mà chưa một lần ông xây dựng được một cách hoàn chỉnh và thuyết phục về cả hình thức cũng như cách thức để đưa dân tộc đến với nó. Tất cả những gì chúng ta thấy là một con người suốt 25 năm luôn hoàn thành tốt việc “lĩnh lương mà không hề cống hiến” bỗng chốc trở thành một người anh hùng đại diện cho tiếng nói yêu nước, một con người bị cha, bác ruột và cả em ruột mình khiếu kiện về việc tranh chấp quyền sử dụng đất bỗng chốc trở thành đứa con sẵn sàng hiến dâng vì một đất nước nhân quyền…và cuối cùng liệu rằng những điều trên có làm chúng ta tin được cái mà luật sư Trần Đình Triển cho rằng mọi chuyện chỉ đơn thuần là tính “dân dã của dân xứ nghệ” khi trả lời phỏng vấn của VOA về vụ án có liên quan tới bà Hồ Lê Như Quỳnh.
 Vậy điều cuối cùng mà con người này muốn là gì?
 Lúc đầu trong thời điểm vụ án còn đang trong giai đoạn điều tra và dư luận thì liên tục nổi lên những bài viết vô cùng rối loạn về thông tin, bản thân tôi và hẳn nhiều bạn sinh viên khác cũng không khỏi lạc lõng, thụ động trong cái “biển” thông tin mơ hồ đó. Thậm chí đã có lúc tôi tự hỏi rằng “liệu có thật…” và cũng không thể phủ nhận trong thâm tâm một người trẻ với bầu nhiệt huyết tôi có đôi lần hứng thú với cái mà đương sự gọi là “bầu không khí dân chủ”. Nhưng rồi nhanh chóng trong quá trình tìm hiểu tôi nhận ra những sự khập khiễng trong lối tư duy thiếu logic, những dấu hiệu bất thường về động cơ của một con người đang giương cao ngọn cờ lý tưởng, và thậm chí cả những yếu tố mang tính lợi ích cá nhân của những người đang tung hô một kẻ mà dường như chính họ cũng hiểu là thiếu tư cách.
 Để rồi tôi đã nghĩ đến việc tự tìm cho mình một câu trả lời.
 Điều đầu tiên tôi cho rằng cần được giải đáp đó là một người yêu nước và đặc biệt là một người trí thức yêu nước thì cần phải làm gì? Liệu có phải là đem hết khả năng của mình ra để đạp đổ một nhà nước mà không hề nghĩ đến tính kế thừa sau khi nhà nước đó sụp đổ, liệu có phải là tính toán, công kích, đả phá mọi hạn chế của chính quyền với mục đích “không thành công cũng thành danh”… rõ ràng trong một đất nước không chiến sự thì cả hai cách làm trên đều đi ngược lại ước nguyện hòa bình của cả dân tộc. Phá nhà thì dễ, xây nhà mới thật sự khó. Hiện tại, tất cả chúng ta đều đang chung sống trong ngôi nhà chung mà cả dân tộc đã đánh đổi bằng máu xương của hơn hai thế hệ, vậy giờ điều mà chúng ta – những người trẻ, những người tiếp quản đất nước mai sau, điều chúng ta thật sự muốn là gì. Liệu có phải là một đống đổ nát của chính quyền cũ với xuất phát điểm bị tụt hậu 10 năm, 20 năm hay thậm chí nhiều hơn thế so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Không ít thì nhiều, tôi và chúng ta đều thấy sự phức tạp về vấn đề chính trị trên thế giới nói chung và ở Việt Nam hiện nay nói riêng. Sự bành trướng về tầm ảnh hưởng của Mĩ, tranh chấp lãnh thổ, vấn đề nhức nhối ở biển Đông… Liệu rằng những giấc mơ màu hồng về đa nguyên, đa đảng, tự do, bình đẳng có thật sự thành hiện thực khi Đảng cộng sản xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp. Liệu những “ông lớn” có chịu ngồi yên để chúng ta tự quyết về một nền dân chủ. Hay những gì chúng ta thu được là một mớ bòng bong về chính trị và lịch sử sẽ quay ngược. Chúng ta thậm chí sẽ còn thua và thua xa hơn nữa ít nhất là về nền dân chủ so với các nước tư bản khi chuyện đó xảy ra. Có một cụm từ mà hồi còn học phổ thông tôi thường được nghe trong những bài giảng lịch sử đó là “giai đoạn tư bản xấu xí” một cách nôm na, đó là ở giai đoạn đầu khi tư sản tìm thấy cho mình một sự tự do tuyệt đối về mặt kinh tế thì họ bỏ qua mọi vấn đề khác như chính trị, văn hóa, đạo đức và thậm chí là cả nhân quyền – cái mà tất cả chúng ta đều đang khao khát, để tối đa hóa lợi ích cá nhân. Điều này đã được lịch sử nhân loại chứng minh. Vậy tôi tự hỏi buông tay trong giai đoạn này liệu có phải là Đảng cộng sản Việt Nam đã tự mình kí vào quyết định đưa đất nước đến với thời kì đó? Thời kì tung hoành của những tinh thần tư bản nóng bỏng bước vào giai đoạn tự do, của những thế lực ngoại quốc luôn lăm le hướng tới việc đem lợi ích ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.
 Khi đã hiểu rõ điều cần làm hiện nay không phải là gào thét một cách điên cuồng về khát vọng dân chủ, càng không phải là từ bỏ con đường mà chúng ta đã theo đuổi hơn 60 năm qua thì bỗng chốc những mục đích của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ trở lên đối lập với lợi ích dân tộc và gắn liền với lợi ích cá nhân nhiều hơn. 
 Đi xa hơn về vấn đề dân tộc và truyền thống lịch sử, có lẽ không chỉ dân tộc Việt Nam mà tất cả các dân tộc trên thế giới đều hết sức giữ gìn và bảo vệ quyền tự quyết của dân tộc mình. Điều đó có nghĩa không một dân tộc nào, một nhà nước nào chấp nhận có sự can thiệp quá sâu vào công việc nội bộ đặc biệt là những chủ trương chính sách nhạy cảm mang tính truyền thống đạo đức, văn hóa vùng miền và lịch sử dân tộc mà dân chủ và nhân quyền là một trong những vấn đề đó. Tôi cho rằng không ai khác ngoài công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền phán quyết về việc áp dụng chính sách dân chủ và nhân quyền trên lãnh thổ Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã và sẽ không chấp nhận bất cứ sự áp đặt nào từ bên ngoài. Chúng ta tiến hành hội nhập, kí kết và thực hiện các công ước quốc tế nhưng không có nghĩa là chúng ta phải “làm theo” các quốc gia khác đặc biệt là Mĩ. Cho nên việc dựa vào Mỹ để tiến hành thực hiện dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam là đường lối hết sức sai lầm mà vị Tiến sĩ luật đã nêu ra
 Về mặt này tôi đặc biệt chú ý tới những phân tích rất có giá trị của GS Trần Chung Ngọc:
“…Nhìn vào quá khứ, chúng ta thấy đã có biết bao nghị quyết nọ kia, kể cả nghị quyết của Liên hiệp Âu châu và cả danh sách CPC, dự luật về nhân quyền cho Việt Nam của Hạ viện Mỹ, nhưng kết quả là bao nhiêu, chính quyền Việt Nam lùi một bước tiến hai bước và cứ làm theo ý. Tại sao? Vì chính quyền Việt Nam thừa biết rằng, tất cả chỉ là những tài liệu chính trị chống Việt Nam và cũng thừa biết chiêu bài nhân quyền của các cường quốc Âu Mỹ là đạo đức giả, có tính cách lưỡng chuẩn (double standard), thường để che đậy những mưu đồ chính trị sau bức bình phong nhân quyền. Những cuộc vận động ngoại nhân để làm áp lực đối với chính quyền Việt Nam mà không nghĩ tới những hậu quả nghiêm trọng có thể xâm phạm đến trật tự, an ninh và chủ quyền quốc gia, là những bước đi chính trị vụng về, thiếu trí tuệ, không nghĩ đến truyền thống yêu nước của người Việt Nam.
 Những điều tôi viết trên đây hoàn toàn không xuất phát từ thành kiến hay sự tận trung với bất kì cá nhân hay tổ chức nào. Mà đó là những lời chia sẻ của một thanh niên đang đứng trước rất nhiều ngã rẽ trong việc lựa chọn cho mình một cách thể hiện lòng yêu nước. Tôi không kêu gọi từ bất kì ai một sự tin tưởng tuyệt đối vào Đảng cộng sản Việt Nam bởi thực tế chính Đảng cũng phải thừa nhận trong quá trình “dò dẫm” đi trên con đường gọi là định hướng xã hội chủ nghĩa thì không thể tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót. Là những công dân thuộc tầng lớp trí thức việc đóng góp ý kiến đối với hoạt động lãnh đạo của Đảng và quản lí của bộ máy nhà nước lại càng trở lên quan trọng. Nhưng không phải vì lí do đó mà bất cứ ai cũng áp dụng hoạt động này một cách máy móc, thiển cận, thiếu xây dựng mà thiên về chỉ trích, quy chụp, bài xích chính quyền nhà nước, đó không phải là hành động yêu nước mà là hành động tiếp tay cho các thế lực phản động từ bên ngoài chống phá đảng, chống phá nhà nước, phương hại đến lợi ích của dân tộc, quyền lợi của nhân dân.
Điều cuối cùng mà tôi muốn đó là tất cả chúng ta – những người trẻ sẽ tìm thấy cho mình một lối đi sáng suốt nhất để có thể dần hoàn thiện nền dân chủ ở nước ta mà không gây ra những hậu quả đáng tiếc về mặt chính trị. Đó không phải là sự e dè trước những điều bị xuyên tạc là “phát đạn cảnh cáo” của Đảng cộng sản khi xét xử các vụ án chính trị mà chính những tuân thủ đó là bước khởi đầu biện chứng cho một xã hội văn minh, tự giác nền tảng của một quốc gia dân chủ và nhân quyền.

THỰC CHẤT CÁI MÀ MĨ GỌI LÀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM


THỰC CHẤT CÁI MÀ MĨ GỌI LÀ VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM
Trong những năm gần đây, Nhà Trắng luôn cáo buộc Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm nhân quyền, thiếu tự do dân chủ, đàn áp dân tộc tôn giáo. Mĩ luôn đưa Việt Nam vào danh sách các nước vi phạm nhân quyền, cần được Mĩ quan tâm đặc biệt. Đặc biệt tối ngày 11/9/2012, Nhà Trắng đã thông qua cái gọi là Dự luật Nhân quyền ở Việt Nam, tiếp tục cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, tự do dân chủ. Đây chính là những luận điệu tuyên truyền, vu khống trắng trợn của chính quyền Mĩ đối với Nhà nước Việt Nam.
Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện tốt các chính sách nhằm đảm bảo triệt để quyền tự do dân chủ, bình đẳng dân tộc, tự do tôn giáo của toàn thể nhân dân Việt Nam. Điều đó đã được quy định cụ thể trong hiến pháp và pháp luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được Nhà nước Việt Nam đảm bảo thực hiện nghiêm minh. Những chính sách tiến bộ về dân tộc, tôn giáo đã được triển khai thực hiện sâu rộng trên toàn quốc, phát huy những hiệu quả to lớn, góp phần nâng cao lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Những bằng chứng thực tế đều chứng minh rằng Việt Nam hoàn toàn không hề vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo, bình đẳng dân tộc.
Tuy nhiên, Mĩ vẫn không ngừng cáo buộc, vu khống Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp dân tộc, đàn áp tôn giáo. Đây là những tuyên bố phi lí và còn ẩn chứa đầy mâu thuẫn trong khi chính trong nội bộ nước Mĩ lại đang tồn tại những vấn đề về nhân quyền. Có thể đưa ra những so sánh đơn giản về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam và Mĩ để thấy rõ những mâu thuẫn trong tuyên bố của Mĩ.
Thứ nhất, theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định mọi công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào HĐND. Điều này đảm bảo quyền làm chủ đất nước thuộc về toàn thể nhân dân, người dân có quyền quyết định mọi công việc của đất nước. Trong khi đó, theo luật pháp nước Mĩ, chỉ những người nào có một lượng tài sản nhất định mới được quyền bầu cử và ứng cử. Theo một thống kê thì tại Mĩ, 1% dân số Mĩ nắm giữ 99% tài sản nước Mĩ và 99% dân số còn lại chỉ sở hữu 1% tài sản quốc gia. Vậy thì có thể thấy rằng quyền làm chủ đất nước Mĩ sẽ rơi vào tay 1% dân số Mĩ đang nắm giữ khối lượng tài sản lớn, 99% dân số còn lại hoàn toàn không có quyền quyết định công việc đất nước. Vậy Mĩ dân chủ hay Việt Nam dân chủ?
Thứ hai, Việt Nam luôn duy trì chính sách tự do tôn giáo. Mọi tôn giáo đều được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện phát triển, đều bình đẳng như nhau. Trong những năm gần đây, nhiều những trung tâm phật giáo, thiền viện phật giáo, giáo đường Thiên chúa giáo được tu bổ, mở rộng, hoặc xây dựng mới. Nhà nước cùng tiếp tục duy trì chính sách đoàn kết tôn giáo, cùng chung tay xây dựng đất nươc được toàn thể nhân dân hưởng ứng. Trong khi đó, tại Mĩ, với sự duy trì chính sách thù địch với Hồi giáo chính là nguyên nhân gây nên vụ khủng bố 11/9 của những phần tử Hồi giáo cực đoan. Đồng thời những cuộc chiến tranh của Mĩ tại Trung Đông cũng đã khiến thế giới Hồi giáo thực sự bức xúc. Điều này cũng đủ so sánh Việt Nam tôn trọng tôn giáo hay Mĩ tôn trọng tôn giáo.
Thứ ba, Việt Nam luôn duy trì chính sách bình đẳng dân tộc. Mọi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều bình đẳng, không phân biệt đối xử. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến sự phát triển của các dân tộc, tạo điều kiên thuận lợi để bà con dân tộc thiểu số nâng cao chất lượng cuộc sống, theo kịp sự phát triển của người kinh. Trong khi đó, tại Mĩ, vẫn còn đâu đây những tàn dư của chế độ phân biệt chủng tộc A-pac-thai. Những hình ảnh binh sĩ Mĩ ngược đãi, hành hạ dã man tù binh Ap-ga-nixtan, Irắc... đã gây lên sự bất bình to lớn của toàn thể loài người tiến bộ. Rồi việc duy trì nhà tù wan-ta-la-mo với những hành vi tra tấn, hành hạ tù nhân chính là những bằng chứng cho việc vi phạm nhân quyền của Mĩ. Vậy Việt Nam vi phạm quyền bình đẳng dân tộc hay là chính Mĩ đang vi phạm nhân quyền.
Từ những so sánh đơn giản trên, chúng ta có thể thấy rõ một điều: Nhà Trắng đang vu cáo Việt Nam nhưng điều mà chính Nhà Trắng đang mắc phải. Phải chăng là do tư tưởng chủ nghĩa nước lớn mà Mĩ đã tự cho mình cái quyền áp đặt những đánh giá chủ quan phiến diện của mình lên một quốc gia? Phải chăng, dựa vào cái gọi là học thuyêt Nhân quyền cao hơn chủ quyền mà Mĩ đã và đang tìm cách dựa vào vấn đề Nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam? Và phải chăng, bằng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, Mĩ đã và đang tiến hành phá hoại tư tưởng Việt Nam, thực hiện âm mưu diễn biến hoà bình thâm độc của mình?
Nhưng nước Mĩ đâu biết rằng những việc làm của mình đã và đang vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và gây nên những bức xúc sâu sắc cho loài người tiến bộ và cả trong chính nội bộ nước Mĩ. Sau khi Nhà Trắng thông qua cái gọi là Dự luật nhân quyền Việt Nam, Hạ nghị sĩ Eni Faleomavaega đã khẳng định đây là một bước đi lạc hướng của chính phủ Mĩ. Ông nói: “Nếu họ (Hạ viện Mĩ) thật lòng quan tâm tới vấn đề nhân quyền ở Việt Nam thì hãy giúp Việt Nam là sạch hàng chục triệu lít chất độc da cam mà quân đội Mĩ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1971 bởi việc để lại khối hoá chất độc hại này ở Việt Nam là sự vi phạm nghiêm trọng về quyền con người”.
Một dự luật được Hạ viện Mĩ thông qua mà ngay chính thành viên của Hạ viện đó đưa ra ý kiến phản đối một cách quyết liệt đủ thấy sự thiếu khách quan trong việc thông qua dự luật này. Và Nhà Trắng thực sự nên xem xét lại về cái gọi là Dự luật nhân quyền Việt Nam khi đã có những dấu hiệu thiếu khách quan, thiếu bằng chứng trong nó.

 

Thống kê

  • bài viết
  • bình luận

Rank Blog

Lượt xem

.
Chia sẻ